Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Đánh giá hiện trạng và tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hƣơng Chƣơng 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hƣơng Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Định nghĩa và khái quát về PTBV 1. Định nghĩa về PTBV Báo cáo có tựa đề “Tƣơng lai của chúng ta”của Ủy ban Quốc tế về Môi trƣờng và Phát triển (WCED), một tổ chức của Liên Hợp Quốc, đƣợc công bố năm 1987 đã định nghĩa: "PTBV là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng (tổn thương) đến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của chính họ".
Nội hàm về PTBV đƣợc tái khẳng định ở Hội nghị Rio - 92 (Hội nghị về Môi trƣờng và Phát triển của Liên Hợp Quốc) và đƣợc bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg - 2002 (Hội nghị thƣợng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững): “PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Tại Việt Nam, PTBV đƣợc định nghĩa là: "Phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường" (Luật bảo vệ môi trƣờng, 2014). Khái quát về PTBV a) Trên thế giới Trong những năm trƣớc đây, cụ thể là từ cuối thế kỷ XIX đến tận cuối thế kỷ thứ XX, phát triển truyền thống vẫn đƣợc coi là xu thế chủ đạo của kinh tế thế giới, với đặc trƣng cơ bản là phát triển chú trọng đến yếu tố tăng trƣởng kinh tế, mà không chú trọng nhiều đến công bằng xã hội và bảo vệ môi trƣờng.
Trong điều kiện của thế giới khi đó vốn tài nguyên thiên nhiên vẫn còn nhiều, phong phú, nhu cầu về của cải vật chất và hàng hóa là rất lớn. Đồng thời, những tiềm ẩn nguy cơ về môi trƣờng chƣa rõ ràng, con ngƣời chƣa nhận thức đƣợc đầy đủ những tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trƣờng, biến đổi khi hậu mang lại. Mặt khác, với hoàn cảnh lịch sử trong thời kỳ những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các cƣờng quốc trên thế giới muốn thể hiện sức mạnh quốc gia thƣờng gắn liền sức mạnh về kinh tế bên cạnh tiềm lực về quốc phòng. Chính vì vậy, phát triển kinh tế là ƣu tiên hàng đầu, mô hình phát triển truyền thống đã đƣợc hầu hết các quốc gia trên thế giới xem trọng.
Trong một thời 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gian dài theo mô hình phát triển truyền thống, thế giới đã đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn về khoa học, kỹ thuật, kinh tế…Tuy nhiên, bên cạnh đó nó cũng khiến cho thế giới phải đối mặt với những hệ lụy tiêu cực về môi trƣờng, cụ thể là: Tiêu tốn nhiều năng lƣợng, nhiên liệu, tài nguyên thiên nhiên, phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm, suy thoái môi trƣờng; gia tăng phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu, sự phân hóa về tầng lớp trong xã hội ngày càng sâu, rộng… Trƣớc thực trạng trên, một số tổ chức và cá nhân trên thế giới đã những hành đồng nhằm thay đổi bản chất của sự phát triển trên thế giới, từ phát triển truyền thống sang PTBV. Một trong những tổ chức sử dụng thuật ngữ ”bền vững” đầu tiên theo nghĩa hiện đại là Câu lạc bộ Roma, một tổ chức phi chính phủ, đã viết trong báo cáo về: Giới hạn tăng trƣởng (1972),”Chúng tôi đang tìm kiếm một mô hình đầu ra đại diện cho cho một hệ thống thế giới bền vững mà không bị sụp đổ đột ngột, không kiểm soát được và có khả năng đáp ứng các nguyên liệu cơ bản của tất cả mọi người”. Cũng trong báo cáo này các tác giả cũng dự đoán rằng: “việc tăng trưởng kinh tế không thể tiếp tục vô thời hạn vì nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn, đặc biệt là Dầu”. Sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành và thúc đẩy sự PTBV của thế giới đó là việc Liên Hợp Quốc thành lập Ủy ban Quốc tế về Môi trƣờng và Phát triển (WCED) hay còn đƣợc biết tới với tên Ủy ban Brundtland vào năm 1984.
Hoạt động của Ủy ban có tính ảnh hƣởng tới toàn thế giới là việc công bố báo cáo có tựa đề “Tƣơng lai của chúng ta”. Chính trong báo cáo này, thuật ngữ PTBV đã đƣợc định nghĩa và thừa nhận rộng rãi. Trong khoảng thời gian rất ngắn so với lịch sử phát triển của nhân loại, trƣớc những thực tế tác động tiêu cực của phát triển kinh tế dựa trên nền tảng khai thác tài nguyên thiên nhiên, ảnh hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng sống và dẫn đến biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu. Thế giới đã nhận thức đƣợc đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của sự PTBV đối với loài ngƣời, PTBV là một xu thế tất yếu và là lựa chọn duy nhất của con ngƣời trong hiện tại và tƣơng lai nếu muốn tiếp tục duy trì sự sống trên hành tinh.
Trong quãng thời gian chƣa đầy nửa thế kỷ, thế giới đã đạt đƣợc thành tựu to lớn, quan trọng nhất là sự thống nhất về quan điểm nhận thức về PTBV, đó là tiền đề cơ bản cho kế hoạch phát triển của mỗi quốc gia và những hành động chung của toàn thế giới. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com b) Tại Việt Nam Nhận thức tầm quan trọng của sự PTBV, Việt Nam đã sớm đề ra một chiến lƣợc cho PTBV nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại và tƣơng lai cho thế hệ sau. Đồng thời có sự tham gia tích cực trong các hoạt động PTBV của thế giới và có những bƣớc đi cụ thể, quyết liệt và hiệu quả cho sự PTBV của Việt Nam. Ngay từ năm 1991, khái niệm PTBV còn mới đƣợc phổ biến trên phạm vi thế giới, đặc biệt trong bối cảnh của Việt Nam còn có rất nhiều khó khăn khi tiếp cận với thế giới do lệnh cấm vận tồn tại từ sau chiến tranh Việt Nam và hệ thống các nƣớc Xã hội chủ nghĩa trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc Đông Âu bị sụp đổ.
Việt Nam đã lần đầu tiên chính thức đề cập tới chủ chƣơng PTBV thông qua việc ban hành Bản kế hoạch chiến lƣợc quốc gia về môi trƣờng và PTBV giai đoạn 1991 - 2000 (1991). Kế hoạch có mục đích tạo nên khuôn khổ hành động cho việc quy hoạch và quản lý môi trƣờng ở cấp quốc gia, địa phƣơng, và ngành, từ đó xác định các các hoạt động cụ thể về bảo vệ môi trƣờng và PTBV trong giai đoạn 1991-2000. Hai mục tiêu lớn của Kế hoạch là: thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về cuộc sống vật chất, tinh thần và văn hóa của các thế hệ ngƣời Việt Nam hiện tại và tƣơng lai; xây dựng và thực hiện chính sách, kế hoạch hành động và cơ chế tổ chức đảm bảo PTBV. Về nội dung cụ thể Kế hoạch có 3 phần lớn: khuôn khổ về thể chế, luật pháp và chính sách; chƣơng trình hành động và chƣơng trình hỗ trợ.
Trong những năm tiếp theo, Việt Nam tiếp tục ban hành những văn bản chỉ đạo, hoàn thiện thể chế về bảo vệ môi trƣờng và PTBV. Đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia Hội nghị thƣợng đỉnh Trái Đất năm 1992 và kí kết Chƣơng trình nghị sự 21. Điều đó cho thấy Việt Nam đã xác nhận và cam kết với thế giới về PTBV, tiến hành các hoạt động cụ thể để tổng hòa những nhu cầu về kinh tế, xã hội và môi trƣờng quốc gia. Chiến lƣợc phát triển KT-XH 2011 - 2020 cũng nhấn mạnh “Phát triển nhanh gắn liền với PTBV, PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lƣợc”.
PTBV đã trở thành đƣờng lối, quan điểm chỉ đạo của Nhà nƣớc. Để thực hiện mục tiêu PTBV đất nƣớc, Chính phủ Việt Nam (2004) đã ban hành: Định hƣớng chiến lƣợc PTBV ở Việt Nam (Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam). Trong đó khẳng định, PTBV đƣợc xem là sự phát triển hài hòa về 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trƣờng nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại nhƣng không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế xã hội mai sau… Điều đó cho thấy, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan điểm về PTBV của Việt Nam đã thể hiện một cách tƣơng đối đầy đủ và cụ thể quan điểm về sự PTBV của Liên Hiệp Quốc. Chƣơng trình nghị sự 21 của một số ngành và địa phƣơng cũng đã đƣợc xây dựng và ban hành.
Trong những năm qua, nhất là sau khi ban hành Định hƣớng chiến lƣợc PTBV, Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng kể trong cả ba trụ cột về kinh tế, xã hội và môi trƣờng của PTBV (Chính phủ Việt Nam, 2012). Tính bền vững và đánh giá tính bền vững 1. Khái quát và định nghĩa tính bền vững Ý tƣởng về tính bền vững (sustainability) bắt nguồn từ khái niệm PTBV, khái niệm này đã trở nên phổ biến và đã đƣợc thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Tính bền vững hay ý nghĩa của sự bền vững là gì? Điều này đã và đang đƣợc nhiều quan điểm trình bày và diễn đạt theo những cách khác nhau, tuy nhiên vẫn chƣa có một khái niệm mang tính chung nhất và đƣợc thừa nhận rộng rãi nhất.
Trên thế giới hiện nay, tùy theo mỗi lĩnh vực lại có các nhìn nhận riêng về tính bền vững. Từ góc độ sinh thái học, tính bền vững đƣợc hiểu là: Mức độ các hệ thống sinh học duy trì tính đa dạng và khă năng sản xuất. Nói chung, tính bền vững là độ bền của hệ thống và quy trình. Các nguyên tắc tổ chức cho sự bền vững bao bồm bốn lĩnh vực kết nối với nhau: Sinh thái, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa.
Thuật ngữ 'tính bền vững' cần được xem như là mục tiêu của con người về sự cân bằng hệ sinh thái con người (homeostasis), trong khi PTBV đề cập đến cách tiếp cận toàn diện và các quá trình thời gian dẫn chúng ta tới điểm kết thúc của tính bền vững (Shaker, 2015).