MỞ ĐẦU Đa dạng sinh học là yếu tố quan trọng, không thể thay thế đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Do vậy, bảo tồn đa dạng sinh học đã trở thành vấn đề đƣợc cả xã hội quan tâm, đặc biệt là tại các vƣờn quốc gia và khu bảo tồn. Du lịch sinh thái đƣợc coi là một trong những cách thức hỗ trợ bảo tồn, đồng thời phát triển kinh tế xã hội một cách hiệu quả. Trong những năm gần đây, du lịch sinh thái đã có những biến đổi mạnh mẽ, dần trở thành xu thế toàn cầu.
Từ cuối những năm 90 trở lại đây, du lịch sinh thái đã nổi lên nhƣ một nhân tố mới cho ngành du lịch Việt Nam. Du lịch sinh thái đang dần phát triển để trở thành một lĩnh vực đầy hứa hẹn trong tƣơng lai gần. Nhiều vƣờn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên đang dần trở thành những điểm hấp dẫn khách du lịch nhƣ: Phong Nha – Kẻ Bàng, Cát Bà, Hoàng Liên, Tam Đảo, Ba Vì, Cúc Phƣơng,…. Vƣờn Quốc gia Bái Tử Long là một khu bảo tồn sinh quyển cấp Quốc gia tại khu vực vịnh Bái Tử Long – huyện Vân Đồn – tỉnh Quảng Ninh và là một trong bảy vƣờn quốc gia vừa có diện tích trên cạn vừa có diện tích dƣới biển.
Vƣờn đƣợc thành lập theo quyết định 85/2001/QĐ – TTg của Thủ tƣớng chính phủ nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 1 tháng 6 năm 2001. Vƣờn Quốc gia Bái Tử Long bao gồm hệ thống đảo nổi vừa có núi đất, vừa có núi đá, đƣợc che phủ bởi thảm thực vật rừng nhiệt đới lá rộng thƣờng xanh, là kho tàng tài nguyên sinh vật nhiệt đới phong phú phân bố trên các đảo núi đất, núi đá vôi hay trong các thung áng,… tạo nên thiên nhiên cảnh quan thật đa dạng. Vƣờn Quốc gia Bái Tử Long hiện là nơi sinh dƣỡng của gần 500 loài thực vật, thuộc 117 họ. Ngoài sự phong phú về thực vật, cũng có thể coi Vƣờn Quốc gia Bái Tử Long là “bộ sƣu tập” động vật quý hiếm của Việt Nam với 37 loài thú, 96 loài chim, 37 loài lƣỡng cƣ và bò sát.
Động vật biển có 391 loài, nhiều loài có giá trị kinh tế cao: Bào ngƣ, sá sung, hải sâm…. Cùng với đó, ven chân các đảo của Vƣờn quốc gia có nhiều vũng, bãi triều đất bùn, bãi đá,…. Trong các đảo núi đá 1 có nhiều hang động đẹp nhƣ hang Cái Đé, hang Soi Nhụ…. Tuy nhiên, các hoạt động du lịch ở các vƣờn quốc gia và khu bảo tồn còn mang tính đại chúng, chƣa có sản phẩm và thị trƣờng mục tiêu.
Quy mô và hình thức tổ chức hoạt động sinh thái còn nhỏ lẻ, đầu tƣ phát triển chƣa cao, chủ yếu vẫn là các dự án hỗ trợ của các tổ chức quốc tế mang tính chất bảo tồn, và nâng cao năng lực cộng đồng tham gia vào du lịch sinh thái tại một số vƣờn quốc gia và khu bảo tồn. Với tiềm năng sẵn có là vậy, song những năm qua, địa chỉ vƣờn quốc gia Bái Tử Long chƣa đƣợc nhiều ngƣời biết tới, hay nói cách khác, thƣơng hiệu Vƣờn quốc gia Bái Tử Long chƣa đủ mạnh để thu hút khách đến tham quan. Hằng năm, lƣợng du khách du lịch đến đay chƣa nhiều, chủ yếu vẫn là các đoàn khảo sát, các nhà khoa học đến để nghiên cứu, tìm hiểu…. Ngoài ra sự tồn tại và phát triển du lịch sinh thái gắn liền với khả năng khai thác tài nguyên đa dạng sinh học và đặc tính của môi trƣờng xung quanh.
Nếu khai thác không hợp lý nguồn tài nguyên đa dạng sinh học sẽ làm suy giảm chất lƣợng môi trƣờng và kìm hãm sự phát triển của du lịch. Vì vậy, đề tài nghiên cứu: “Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái dựa trên tài nguyên đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Bái Tử Long – Vân Đồn – Quảng Ninh” nhằm xây dựng và đề xuất định hƣớng phát triển du lịch sinh thái và đảm bảo bền vững tính đa dạng sinh học. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1. Du lịch sinh thái 1.
Khái niệm về du lịch sinh thái: Ngày nay, hoạt động du lịch phát triển mạnh, trong đó, du lịch sinh thái ngày càng đƣợc nhiều ngƣời biết đến. Thực sự có một thời gian dài du lịch sinh thái là chủ đề nóng của các hội thảo về chiến lƣợc và chính sách bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái trọng điểm của các quốc gia và thế giới. Một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái Hector Ceballos – Lascutain đã đƣa ra định nghĩa đầu tiên về du lịch sinh thái vào năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thƣởng ngoạn phong cảnh và giới động – thực vật hoang dã, cũng nhƣ những biểu thị văn hóa (cả quá khứ và hiện tại) đƣợc khám phá trong những khu vực này.” Theo Megan Epler Wood (1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tƣơng đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trƣờng và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích cho ngƣời dân địa phƣơng.” Năm 1994, nƣớc Úc đƣa ra khái niệm: “Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trƣờng thiên nhiên đƣợc quản lý bền vững về mặt sinh thái.” Theo Hiệp hội du lịch sinh thái Hoa Kỳ, năm 1998: Du lịch sinh thái là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trƣờng, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phƣơng.” Một định nghĩa khác của Honey (1999): “Du lịch sinh thái là du lịch hƣớng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thƣờng đƣợc bảo vệ với mục 3 đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô thật nhỏ.
Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ đạo để bảo vệ môi trƣờng, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho ngƣời dân địa phƣơng và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con ngƣời.” Ở Việt Nam, vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lƣợc quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trƣờng có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trƣờng và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho các nỗ lực bảo tồn.” Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đƣa ra khái niệm về du lịch sinh thái: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tƣợng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thƣởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng nhƣ giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững.” Năm 2005, Luật du lịch đã đƣa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phƣơng với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các Vƣờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch sinh thái đƣợc hiểu là: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phƣơng với sự tham gia của cộng đồng dân cƣ ở địa phƣơng nhằm phát triển bền vững.” Theo Hiệp hội du lịch sinh thái (The Internatonal Ecotourism society) thì: “Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trƣờng và cải thiện phúc lợi cho ngƣời dân địa phƣơng.” Qua các khái niệm trên ta thấy rằng các khu bảo tồn và Vƣờn Quốc gia là nơi phù hợp nhất bởi đây chính là nơi có nhiều yếu tố hấp dẫn khách du lịch sinh 4 thái (Động – Thực vật quý hiếm đặc hữu, cuộc sống hoang dã phong tục tập quán, tính đa dạng sinh học cao, địa hình hung vĩ, các khu di tích lịch sử hoặc văn hóa đƣơng đại….3 Các nguyên tắc cơ bản : + Có hoạt động diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trƣờng qua đó tạo ý thức tham gia vào các hoạt động bảo tồn, giảm thiểu tác động tiêu cực. + Bảo vệ môi trƣờng và duy trì hệ sinh thái.
+ Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng. + Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phƣơng.3 Các loại hình du lịch sinh thái (Nguồn: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) tại Việt Nam, 2008): + Du lịch dựa vào thiên nhiên (nature-based tourism) bao gồm các hoạt động nghỉ dƣỡng, tham quan, mạo hiểm, thể thao, thắng cảnh, vui chơi giải trí,… mang tính giáo dục nâng cao nhận thức và có trách nhiệm với bảo tồn sinh thái. + Du lịch dựa vào văn hóa (culture-based tourism): tham quan nghiên cứu, hành hƣơng lễ hội,… + Du lịch công vụ: hội nghị, hội thảo, hội chợ,… 1. Lợi ích của du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là loại hình luôn gắn với tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng.
Nên du lịch sinh thái là một công cụ bảo tồn hữu hiệu (Nguồn: Quy chế quản lý rừng, 2006): Để làm hài lòng và mong muốn sự trở lại của khách du lịch, các nhà kinh doanh hay ngƣời dân nơi đây sẽ bảo vệ tự nhiên một cách hiệu quả. Nâng cao nguồn thu nhập dân địa phƣơng, khu vực và cung cấp nguồn lực cho công tác bảo tồn. Cung cấp nguồn vốn cho công tác bảo tồn ở các vùng bảo tồn thiên nhiên khác, nơi mất hoặc cân bằng sinh thái mong manh hay chƣa có du lịch. Nâng cao lợi ích của khu bảo tồn, từ đó thu hút sự quan tâm của nhà nƣớc và các nguồn đầu tƣ tƣ nhân, tạo cơ hội thành lập nhiều hơn các khu bảo tồn khác.