đặt vấn đề về du lịch sinh thái và sự tìm kiếm đi đến sự thống nhất bản chất, nhận thức của loại hình du lịch sinh thái vẫn đang đƣợc tiếp tục trên nhiều diễn đàn quốc tế và trong nƣớc. Loại hình du lịch sinh thái về thực chất là loại hình có quy mô không lớn, nhƣng có tác dụng hoà nhập môi trƣờng tự nhiên với điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hoá đó. Chính loại hình du lịch này cũng là loại hình du lịch bền vững mà hiện nay Tổ chức Du lịch thế giới đã khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách cùng ngƣời dân ở vùng có du khách đến thăm quan, nghỉ dƣỡng v. đồng thời chú trọng tới việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch để có điều kiện phát triển hoạt động của du lịch trong tƣơng lai.
Nhiệm vụ của du lịch sinh thái Bảo tồn tài nguyên của môi trƣờng tự nhiên. Bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trƣờng tự nhiên mà họ đang chiêm ngƣỡng. Có giáo dục môi trƣờng (GDMT): đặc điểm có GDMT trong DLST là một yếu tố cơ bản, có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ của khách du lịch, cộng đồng địa phƣơng và chính ngành du lịch. Đây có thể coi là một trong những công cụ hữu hiệu cho các khu tự nhiên.
Thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng, ngƣời dân bản địa trong việc quản lý và bảo vệ, phát triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm du lịch, khu du lịch v. 6 Cung cấp các kinh nghiệm du lịch với chất lƣợng cao cho du khách: thỏa mãn những mong muốn của du khách về sự nâng cao hiểu biết và những kinh nghiệm du lịch lý thú là sự tồn tại sống còn và lâu dài của ngành DLST. Qua các yêu cầu nhiệm vụ nói trên, loại hình du lịch sinh thái vừa đảm bảo sự hài lòng đối với du khách ở mức độ cao để tạo lập sự hấp dẫn đối với họ, đồng thời qua du khách quảng bá uy tín của điểm du lịch, khu du lịch. Từ đó ngành du lịch có điều kiện bảo đảm và nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch và cũng là cơ hội tăng thu nhập cho ngƣời dân thông qua hoạt động du lịch, cũng tức là có điều kiện thuận lợi về xã hội hoá thu nhập từ du lịch.
Những nguyên tắc cơ bản của du lich sinh thái Nguyên tắc 1: Giáo dục nâng cao hiểu biết cho khách du lịch về môi trƣờng tự nhiên, qua đó tạo ý thức tham gia của khách du lịch vào các nỗ lực bảo tồn. Nguyên tắc 2: Góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trƣờng và duy trì hệ sinh thái tự nhiên, góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá của vùng, quốc gia. Nguyên tắc 3: Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phƣơng. Nguyên tắc 4: Khách du lịch đƣợc hoà nhập với hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn nhƣng phải có trách nhiệm giữ gìn hệ sinh thái đang hoà nhập.
Nguyên tắc 5: Lƣợng khách du lịch luôn đƣợc điều hoà mức vừa phải, để đảm bảo cho không gian, môi trƣờng không bị quá tải (tức là không đƣợc vƣợt quá giới hạn tối đa về sức chứa của điểm du lịch). Nguyên tắc 6: Phát triển du lịch sinh thái phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trƣờng, tăng cƣờng và khuyến khích trách nhiệm đạo đức đối với môi trƣờng tự nhiên, không đƣợc làm tổn hại đến tài nguyên môi trƣờng. Nguyên tắc 7: Tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận giá trị này. 7 Nguyên tắc 8: Khi tổ chức du lịch sinh thái, phải luôn đặt nguyên tắc vể môi trƣờng sinh thái lên hàng đầu.
Điều đó có nghĩa là phải làm cho mọi ngƣời khách du lịch sinh thái chấp nhận điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trƣờng cho sự thuận tiện cá nhân. Nguyên tắc 9: Phải đảm bảo lợi ích lâu dài hài hoà cho tất cả các bên liên quan (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, lợi ích của địa phƣơng, cộng đồng dân cƣ, cơ quan bảo tồn, các đơn vị kinh doanh du lịch). Nguyên tắc 10: Du lịch sinh thái phải đem lại cho khách du lịch những kinh nghiệm đƣợc hoà đồng vào tự nhiên làm tăng sự hiểu biết về tự nhiên, tránh xu hƣớng khai thác quá mức thiên nhiên để phục vụ nhu cầu đi tìm cảm giác mạnh hoặc mục đích tăng cƣờng thể trạng của cơ thể. Nguyên tắc 11: Ngƣời hƣớng dẫn và các thành viên tham gia du lịch sinh thái phải có sự chuẩn bị kỹ càng về nội dung hƣớng dẫn và phải có hiểu biết nhận thức cao về môi trƣờng sinh thái.
Nguyên tắc 12: Cần có sự đào tạo đối với tất cả các thành viên của các đơn vị tham gia vào du lịch sinh thái (chính quyền địa phƣơng, cơ quan quản lý du lịch, hãng lữ hành và khách du lịch trƣớc, trong và sau chuyến đi). 8 Chƣơng 2 PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU TRA NGHIÊN CỨU CỦA KHÓA LUẬN 2. Các phƣơng pháp thu thập số liệu 2. Kế thừa có chọn lọc từ các nguồn tài liệu Thông qua các quyển sách, các bài báo, tạp chí, trang web của Vƣờn, những bài báo cáo của cán bộ kiểm lâm ở các trạm, Vƣờn, các thông tin thu thập đƣợc từ phòng GDMT - DLST, Phòng KH - HTQT và qua các bài luận văn tốt nghiệp của các khoá có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Để thu thập thông tin về đất đai, dân số và lao động … của địa phƣơng, Vƣờn. Và về số lƣợng các động thực vật quý hiếm, các tiềm năng DL sinh thái, số lƣợt du khách đến tham quan tại VQG Xuân Thủy. Thông tin về đối tƣợng nghiên cứu đƣợc thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nên phải phân loại, so sánh và chọn lọc những thông tin có giá trị nhất để sử dụng trong bài viết. Đây là phƣơng pháp giúp nhận rõ những thông tin cần thiết để thành lập ngân hàng số liệu.
Khảo sát thực tế theo các tuyến- điểm du lịch ở VQG Xuân Thủy Tiến hành khảo sát thực địa các tài nguyên DLST đang đƣợc khai thác và các tiềm năng DLST hiện tại chƣa đƣợc khai thác để tìm hiểu và đánh giá tiềm năng DLST VQG Xuân Thủy. Đồng thời đối chứng với số liệu kế thừa đã thu đƣợc để đảm bảo độ chính xác của số liệu. Điều tra xã hội học Phƣơng pháp này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài. Sử dụng phƣơng pháp này để phỏng vấn trực tiếp một số du khách tham gia du lịch tại VQG Xuân Thủy, những ngƣời có trách nhiệm quản lý Vƣờn, những ngƣời dân địa phƣơng phục vụ cho du lịch.
Qua đây có thể biết đƣợc tính hấp dẫn của khu du lịch, tâm tƣ nguyện vọng của du khách cũng nhƣ của ngƣời dân địa phƣơng, từ đó có cái nhìn xác thực về tài nguyên và hoạt động du lịch tại nơi nghiên cứu. Các mẫu phiếu để phỏng vấn ở phần phụ lục. Các phƣơng pháp xử lý số liệu 2. Tổng hợp tỉ lệ % các phương án trả lời trong mẫu phiếu phỏng vấn: Theo phƣơng pháp thống kê thƣờng quy 2.
Phương pháp đánh giá tài nguyên cho phát triển du lịch sinh thái 2. Đánh giá từng loại tài nguyên a) Địa hình- địa mạo: Các dạng địa hình độc đáo, có giá trị đối với du lịch nghiên cứu tìm hiểu quá trình địa chất. b) Khí hậu: Sau khi kiểm kê các chỉ số của các yếu tố khí hậu, đối với bảng chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con ngƣời để đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn với hoạt động du lịch, thời gian hoạt động du lịch, và khả năng phát triển các loại hình du lịch (tham quan nghỉ dƣỡng, chữa bệnh,…). Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con ngƣời (Theo Tổng cục du lịch Việt Nam, 2010) Biên độ Nhiệt độ Lƣợng Nhiệt độ TB nhiệt của Hạng Ý nghĩa TB năm mƣa năm tháng (0C) nhiệt độ (0C) (mm) TB năm 1 Thích nghi 18-24 24-27 < 6 0C 1250-1990 2 Khá thích nghi 24-27 27-29 6-8 0C 1990-2550 3 Nóng 27-29 29-32 8-140C >2550 4 Rất nóng 39-32 32-35 14-190C < 1250 5 Không thích nghi >32 >35 >190C < 650 c) Tài nguyên nƣớc: Hệ thống sông suối, độ dài sông suối, tốc độ dòng chảy, thành phần của nƣớc, độ cao của thác ghềnh; đánh giá những thuận lợi và khó khăn với hoạt động du lịch tham quan, du lịch sông nƣớc.
d) Tài nguyên sinh vật: Độ che phủ của rừng; các kiểu rừng và các hệ sinh thái khác; thành phần loài động thực vật; các loài động thực vật đặc hữu của Việt Nam, các loài quý hiếm có giá trị bảo tồn quốc tế. 10 e) Di tích lịch sử: Lịch sử hình thành và phát triển, quy mô, các giá trị về kiến trúc nghệ thuật, cấp đƣợc xếp hạng. f) Các lễ hội: Thời gian diễn ra, giá trị và quy mô, lịch sử hình thành, sức hấp dẫn du khách, quản lý- khai thác và bảo tồn. g) Nghề và làng nghề: Lịch sử hình thành, quy mô, các yếu tố nuôi dƣỡng làng nghề, nghệ thuật sản xuất, các giá trị kinh tế-văn hóa, cơ chế chính sách phát triển, bảo vệ, khôi phục và khai thác làng nghề, khả năng đầu tƣ du lịch.
Đánh giá tổng hợp tài nguyên a) Vị trí địa lý: Căn cứ vào khoảng cách từ VQG đến nơi cung cấp nguồn khách chính và các điều kiện về giao thông, thời gian di chuyển. Phân thành 4 cấp nhƣ sau: (1). Rất thuận lợi: Khoảng cách từ 10-100km; thời gian đi không quá 3 giờ, có thể đến bằng 2-3 loại phƣơng tiện thông dụng. Khá thuận lợi: Khoảng cách từ 100-200km; thời gian di chuyển khoảng 3-4 giờ, có thể đến bằng 2-3 phƣơng tiện giao thông.
Thuận lợi trung bình: Khoảng cách từ 200-300 km; thời gian di chuyển khoảng 4-5 giờ, có thể đến bằng 1-2 phƣơng tiện thông dụng. Kém thuận lợi: Khoảng cách trên 300km; thời gian di chuyển trên 5 giờ, có thể đến bằng 1-2 phƣơng tiện thông dụng. b) Tính liên kết với các điểm du lịch khác: (1). Tốt: Liên kết trên 4 điểm du lịch khác tạo thành 1 chuỗi điểm du lịch.
Khá tốt: Liên kết từ 3-4 điểm du lịch xung quanh. Trung bình: Liên kết từ 2-3 điểm du lịch xung quanh. Kém: Liên kết với 1 hoặc không liên kết với điểm du lịch nào.