Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sản xuất nông nghiệp giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế Việt Nam với khoảng 70% dân số sống bằng nghề nông, canh tác trên diện tích khoảng 9 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có hơn 4 triệu ha đất chuyên trồng lúa. Trước áp lực gia tăng dân số, đô thị hóa và công nghiệp hóa, phương thức thâm canh tăng vụ nhằm gia tăng sản lượng cây trồng đã trở thành lựa chọn tất yếu. Tuy nhiên, việc thâm canh cao độ dẫn đến hệ quả làm mất cân bằng sinh thái nông nghiệp, tạo điều kiện cho các loài dịch hại bùng phát trên diện rộng. Để bảo vệ năng suất, việc áp dụng biện pháp hóa học thông qua thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trở thành công cụ chủ yếu. Thói quen sử dụng thuốc thiếu khoa học, lạm dụng phương châm "phòng hơn chống" bằng việc phun định kỳ đã gây lãng phí kinh tế, làm suy giảm quần thể thiên địch, gia tăng hiện tượng kháng thuốc của sâu bệnh và gây ô nhiễm môi trường nông thôn nghiêm trọng.

Tại xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, hoạt động canh tác nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn với 476 ha đất lúa cùng hàng trăm ha cây màu và cây ăn quả. Công tác quản lý kinh doanh, mạng lưới phân phối và ý thức thực hành an toàn hóa chất của người dân địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro lớn đối với sức khỏe cộng đồng và chất lượng các thành phần môi trường. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài khóa luận "Đánh giá thực trạng sử dụng và ảnh hưởng của thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp tại địa bàn xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung cụ thể:

  1. Tìm hiểu thực trạng sử dụng và ảnh hưởng của thuốc BVTV trên địa bàn khu vực xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Đánh giá hiểu biết, tình hình sử dụng thuốc BVTV và ảnh hưởng của việc ô nhiễm thuốc BVTV đến sức khỏe người dân địa phương.
  3. Trên cơ sở đánh giá, đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm do thuốc BVTV, nâng cao ý thức người dân cũng như hiệu quả công tác quản lý thuốc BVTV tại địa phương.

Yêu cầu nghiên cứu đặt ra bao gồm: phỏng vấn đại diện các tầng lớp nhân dân ở các lứa tuổi, ngành nghề khác nhau; thu thập số liệu tự nhiên, kinh tế - xã hội chính xác, khách quan; sử dụng bộ câu hỏi khảo sát soạn sẵn rõ ràng, dễ hiểu; các kiến nghị giải pháp đề xuất phải phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và có tính khả thi cao.

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loại hóa chất bảo vệ thực vật được lưu thông, kinh doanh và sử dụng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên (tập trung khảo sát tại 12 xóm).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp được thu thập và điều tra thực địa từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015; số liệu thứ cấp kế thừa giai đoạn 2014 đến đầu năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng hệ thống khái niệm chuyên ngành khoa học môi trường và nông dược:

  • Môi trường và ô nhiễm môi trường.
  • Hóa chất BVTV và thuốc BVTV theo giáo trình của Trần Văn Hải (2008).
  • Chất độc, độc tính cấp tính (chỉ số $LD_{50}$, $LC_{50}$) và độc tính mãn tính (tích lũy sinh học, gây biến đổi cấu trúc, ung thư, quái thai) theo Trần Oánh và cộng sự (2007).
  • Quy chuẩn phân loại độc tính thuốc trừ dịch hại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) với 4 nhóm độc: Nhóm I (Rất độc - vạch đỏ, biểu tượng đầu lâu xương chéo), Nhóm II (Độc cao - vạch vàng, biểu tượng chữ thập chéo), Nhóm III (Nguy hiểm - vạch xanh nước biển, biểu tượng đường chéo không liền nét), Nhóm IV (Cẩn thận - vạch xanh lá cây).
  • Nguyên tắc sử dụng thuốc "4 đúng": đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng - nồng độ và đúng cách.

Khung pháp lý được viện dẫn gồm:

  • Luật Bảo vệ Môi trường số 29/2005/L-CTN.
  • Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật ngày 15/02/1993.
  • Quyết định số 184/2006/QĐ-TTg về Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.
  • Nghị định số 58/2002/NĐ-CP và Nghị định số 26/2003/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
  • Quyết định số 89/2006/QĐ-BNN và Quyết định số 63/2007/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quản lý thuốc BVTV.
  • Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải nguy hại.
  • Thông tư số 36/2011/TT-BNNPTNT, Thông tư số 10/2012/TT-BNNPTNT và Thông tư số 21/2013/TT-BNNPTNT ban hành danh mục thuốc BVTV được phép, hạn chế và cấm sử dụng tại Việt Nam.
  • Tiêu chí 17.5 về giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg.

Các phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp kế thừa: Thu thập báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu diện tích gieo trồng và diễn biến sâu bệnh từ UBND xã Tân Thành và Trạm BVTV huyện Phú Bình; tổng hợp tài liệu chuyên ngành về thực trạng sử dụng hóa chất BVTV của Cục BVTV, các nghiên cứu dịch tễ học của Hà Minh Trung, Cao Thúy Tạo, Nguyễn Duy Thiết.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Trực tiếp quan sát, ghi chép hành vi pha thuốc, kỹ thuật phun xịt, thói quen sử dụng bảo hộ lao động và sự hiện diện của bao bì hóa chất tại đồng ruộng, mương máng, đường làng.
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thiết kế bảng hỏi gồm 2 phần (thông tin chung và các vấn đề liên quan đến sử dụng, thải bỏ thuốc BVTV). Thực hiện phỏng vấn trực tiếp 140 hộ dân canh tác tại 12 xóm, 5 chủ cơ sở kinh doanh thuốc BVTV và cán bộ chuyên trách bảo vệ thực vật trên địa bàn xã Tân Thành.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel để mã hóa dữ liệu, tính toán tỷ lệ phần trăm, lập bảng so sánh và biểu đồ trực quan.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc kiểm soát ô nhiễm thuốc BVTV trong bối cảnh thâm canh nông nghiệp tại Việt Nam. Khái quát mục tiêu nghiên cứu, các yêu cầu đối với việc thu thập số liệu điều tra thực địa tại xã Tân Thành, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong công tác quản lý môi trường nông thôn cấp cơ sở.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa các cơ sở khoa học về phân loại hoạt chất, độc tính và các con đường phát tán của hóa chất BVTV trong hệ sinh thái (rửa trôi vào đất, ngấm vào nước ngầm, phát tán trong không khí và tích lũy trong chuỗi thức ăn). Điểm luận lịch sử sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và tại Việt Nam qua các giai đoạn (trước 1957, 1957–1975, 1976–1980, 1986–1990 và từ 1990 đến 2013). Tổng hợp các công trình nghiên cứu chứng minh tác động tiêu cực của hóa chất nông nghiệp đối với vi sinh vật đất, nguồn nước mặt, cây trồng, vật nuôi, thiên địch và sức khỏe con người, đặc biệt là nguy cơ nhiễm độc mãn tính, tổn thương thần kinh, suy giảm chỉ số men cholinesterase và bệnh ung thư.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác lập đối tượng nghiên cứu là hóa chất BVTV trên địa bàn xã Tân Thành; khoanh vùng không gian tại 12 xóm thuộc xã trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2015. Chi tiết hóa nội dung đánh giá công tác quản lý hành chính, tập quán sử dụng thuốc của người dân, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và đề xuất giải pháp. Quy định quy trình chọn mẫu phỏng vấn 140 hộ dân, 5 chủ cơ sở bán thuốc và phương pháp thống kê mô tả trên nền tảng Microsoft Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đánh giá chi tiết năng lực sản xuất nông nghiệp của xã Tân Thành với diện tích lúa cả năm là 476 ha (lúa chiêm xuân 125 ha đạt năng suất 43 tạ/ha, lúa mùa muộn 351 ha đạt 42,3 tạ/ha), ngô 145 ha, khoai 90 ha, sắn 100 ha, cây ăn quả 40 ha và rau màu 20 ha. Năm 2014, diện tích cây trồng nhiễm sâu bệnh toàn xã là 668,15 ha, diện tích tiến hành phòng trừ đạt 1053,31 ha.

Mạng lưới cung ứng gồm 5 cơ sở kinh doanh thuốc BVTV, trong đó có 1 quầy nhà nước thuộc Trạm BVTV xã (chiếm 20%) và 4 quầy tư nhân (chiếm 80%). Đáng chú ý, có 1/4 cơ sở tư nhân (chiếm 25%) hoạt động khi chưa được cấp giấy phép hành nghề. Khảo sát danh mục cho thấy có 13 loại thuốc thương phẩm được sử dụng phổ biến (100% thuộc danh mục được phép sử dụng), phân chia thành 6 nhóm: thuốc trừ sâu (4 loại, chiếm 30,7%), thuốc trừ bệnh (3 loại, 23,1%), thuốc diệt cỏ (3 loại, 23,1%), thuốc kích thích sinh trưởng (1 loại, 7,7%), thuốc trừ ốc bươu vàng (1 loại, 7,7%) và thuốc diệt chuột (1 loại, 7,7%).

Vụ canh tác Cây lúa (kg) Cây ăn quả (kg) Cây màu - sắn, ngô, khoai (kg) Cây rau màu (kg) Tổng khối lượng thuốc BVTV sử dụng (kg)
Vụ xuân 2014 (DT: 362 ha) 31,25 – 50,00 2,00 – 4,00 25,50 – 42,00 1,32 – 2,52 60,07 – 98,52
Vụ mùa 2014 (DT: 489 ha) 105,30 – 193,05 - 27,35 – 37,90 3,90 – 4,40 136,55 – 235,35 (Tính chung toàn bộ: 194,72 – 332,91)
Vụ xuân 2015 (DT: 338 ha) 32,50 – 52,00 1,80 – 3,60 23,00 – 37,00 1,10 – 2,10 58,40 – 94,70

Trong năm 2014, nhu cầu thuốc BVTV toàn xã dao động từ 194,72 đến 332,91 kg; trong đó lượng dùng cho cây lúa chiếm áp đảo (70,13% – 73,00%), các cây trồng khác chiếm 27,00% – 28,87%. Lượng thuốc vụ xuân 2015 giảm từ 1,67 đến 3,82 kg so với vụ xuân 2014 do diện tích đất canh tác bị thu hẹp bởi quá trình chuyển đổi sang mặt bằng công nghiệp chế biến và kinh doanh dịch vụ.

Nội dung khảo sát nông hộ (Mẫu n = 140) Chỉ tiêu cụ thể Số phiếu Tỷ lệ (%)
Tần suất sử dụng thuốc Thường xuyên sử dụng 19 13,60
Sử dụng khi cần thiết 103 73,50
Không sử dụng 18 12,90
Mức độ hiểu biết & quan tâm Có tìm hiểu nguồn gốc thuốc BVTV 95 67,90
Quan tâm hiệu quả diệt trừ sâu bệnh 140 100,00
Quan tâm ảnh hưởng tới sức khỏe 125 89,30
Biết đầy đủ điều kiện sức khỏe khi phun 31 22,20
Hiểu rõ không phun khi mang thai, cho con bú 130 92,90
Hiểu rõ việc phải khám sức khỏe định kỳ 11 7,86
Kỹ thuật pha chế thuốc Theo chỉ dẫn của cán bộ khuyến nông 78 55,70
Tự ý pha theo lượng sâu bệnh hại 23 16,40
Kết hợp thêm các loại thuốc khác ngoài chỉ dẫn 39 27,90
Trang bị bảo hộ lao động Sử dụng khẩu trang 131 93,60
Sử dụng mũ, nón 130 92,90
Sử dụng quần áo bảo hộ lao động 90 64,30
Sử dụng găng tay 89 63,60
Sử dụng kính mắt bảo hộ 9 6,40
Sử dụng đầy đủ bảo hộ lao động 23 16,40
Xử lý bao bì sau sử dụng Bỏ trực tiếp tại nơi sử dụng (bờ ruộng, đường đi) 58 41,43
Vứt ra sông, ao, hồ, kênh mương 37 26,43
Bỏ vào nơi tập kết rác trên đường về 25 17,86
Bỏ vào bể thu gom chuyên dụng ngoài đồng 15 10,72
Tự chôn, đốt trong vườn nhà 5 3,57

Tác động tới sức khỏe người lao động: Lực lượng trực tiếp phun thuốc gồm 83% nam giới và 17% nữ giới (độ tuổi 20–60 tuổi). Mặc dù chưa ghi nhận ca ngộ độc cấp tính, song các triệu chứng ngộ độc cơ năng xuất hiện phổ biến: uể oải (86,43%), đau đầu (83,57%), da mẩn ngứa (82,14%), hoa mắt chóng mặt (78,57%), buồn nôn (70,71%), mệt mỏi khó chịu (66,43%), mất ngủ (62,14%), chảy nước mắt (60,00%), run tay chân (45,00%), tăng tiết nước bọt (43,57%), ho (42,86%) và khô họng (35,71%).

Tỷ lệ mắc các bệnh lý thực thể ở người thường xuyên tiếp xúc với thuốc ở mức cao: bệnh về mắt chiếm 95,00% (133 người), bệnh tai mũi họng chiếm 89,29% (125 người), bệnh cơ xương khớp chiếm 71,43% (100 người), da liễu chiếm 60,71% (85 người), tiêu hóa chiếm 59,29% (83 người), tâm thần kinh chiếm 57,14% (80 người), hô hấp chiếm 35,71%, tiết niệu chiếm 21,43% và tim mạch chiếm 11,43%.

Về cảm quan môi trường, 95,00% người dân nhận thấy môi trường không khí có dấu hiệu bất thường (bốc mùi hóa chất nồng nặc trong những ngày oi bức, nắng nóng), 30,71% nhận thấy dấu hiệu lạ tại nguồn nước và 10,71% ghi nhận tại môi trường đất.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các phát hiện nghiên cứu; đề xuất 2 nhóm giải pháp chính:

  • Nhóm giải pháp quản lý: Siết chặt cấp phép kinh doanh tư nhân; kiểm tra định kỳ nhãn mác, nguồn gốc xuất xứ; lồng ghép tiêu chuẩn an toàn hóa chất vào tiêu chí 17.5 về xây dựng nông thôn mới; thành lập các tổ cộng đồng tự quản giám sát sử dụng thuốc BVTV.
  • Nhóm giải pháp kỹ thuật, xử lý: Tuyên truyền nông dân thực hiện nguyên tắc "4 đúng"; kỹ thuật súc rửa bao bì 3 lần trước khi tiêu hủy; xây dựng hệ thống bể chứa bê tông xi măng chuyên dụng ngoài đồng để thu gom bao bì, vỏ chai; định kỳ hợp đồng với đơn vị có chức năng vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng cụ thể:

  • Phân tích cơ cấu tiêu thụ thuốc BVTV của 362–489 ha cây trồng, chỉ ra cây lúa tiêu thụ trên 70% tổng khối lượng hóa chất của toàn xã.
  • Phát hiện lỗ hổng quản lý kinh doanh: 20% thị phần do cơ sở nhà nước phụ trách, 80% do tư nhân nắm giữ, trong đó 25% cơ sở tư nhân buôn bán không có giấy phép hành nghề.
  • Chỉ rõ tập quán xử lý chất thải nguy hại còn lạc hậu: 67,86% lượng bao bì thuốc BVTV sau sử dụng bị vứt bừa bãi tại bờ ruộng hoặc ném xuống hệ thống kênh mương, sông ngòi; tỷ lệ người dân sử dụng đầy đủ đồ bảo hộ lao động đạt mức rất thấp (16,40%), đặc biệt tỷ lệ đeo kính bảo hộ chỉ đạt 6,40%.
  • Cung cấp dẫn liệu thống kê về tần suất triệu chứng ngộ độc mãn tính (uể oải 86,43%, đau đầu 83,57%) và tỷ lệ bệnh lý nhãn khoa (95,00%), tai mũi họng (89,29%) ở người lao động tiếp xúc hóa chất.

Về mặt đóng góp, đề tài cung cấp bộ dữ liệu thực địa có tính đại diện cao cho một xã trung du bán sơn địa đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Kết quả này bổ sung cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý môi trường huyện Phú Bình và UBND xã Tân Thành trong việc quy hoạch các điểm thu gom chất thải nguy hại nông nghiệp, phục vụ trực tiếp mục tiêu hoàn thành tiêu chí số 17 trong Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do điều kiện thực hiện:

  • Phương pháp đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí mới chỉ dừng lại ở khảo sát xã hội học, điều tra cảm quan của người dân địa phương; chưa có kinh phí để lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm nhằm xác định chính xác dư lượng hoạt chất BVTV tồn lưu.
  • Khảo sát sức khỏe cộng đồng dựa trên lời khai về triệu chứng cơ năng và lịch sử bệnh lý thông thường của người dân, chưa tiến hành khám sàng lọc lâm sàng chuyên sâu hay xét nghiệm nồng độ men cholinesterase trong máu để khẳng định mức độ nhiễm độc hóa chất nghề nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Triển khai lấy mẫu phân tích hàm lượng dư lượng thuốc BVTV nhóm lân hữu cơ, clo hữu cơ, cúc tổng hợp (pyrethroid) trong các tầng đất canh tác, nước ngầm, nước mặt và nông sản thu hoạch tại xã Tân Thành.
  • Thực hiện nghiên cứu can thiệp dịch tễ học, đo đạc các chỉ số y sinh học của nông dân trước và sau mùa vụ phun xịt; theo dõi, đánh giá hiệu quả môi trường của mô hình bể bê tông thu gom vỏ thuốc sau khi đưa vào vận hành.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Nông học, Y tế Công cộng: Tham khảo cấu trúc thiết kế phiếu điều tra xã hội học môi trường nông thôn, phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát và cách tiếp cận tính toán lượng hóa chất tiêu thụ trên diện tích canh tác từng loại cây trồng.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp, môi trường cấp xã/huyện: Ứng dụng dữ liệu thực trạng để xây dựng phương án quản lý mạng lưới bán lẻ thuốc BVTV tư nhân; thiết kế sơ đồ bố trí bể gom rác nguy hại ngoài đồng ruộng nhằm đáp ứng tiêu chí 17.5 về môi trường nông thôn mới.
  • Các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Trạm Khuyến nông): Sử dụng các số liệu thực tế về triệu chứng bệnh mắt, da liễu, ngộ độc cơ năng để làm tài liệu trực quan phục vụ các lớp tập huấn an toàn lao động và hướng dẫn sử dụng đồ bảo hộ cá nhân cho nông dân.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng thuốc BVTV được sử dụng tại xã Tân Thành trong năm 2014 là bao nhiêu và cây trồng nào tiêu thụ nhiều nhất?
Năm 2014, tổng khối lượng thuốc BVTV sử dụng trên toàn xã dao động từ 194,72 đến 332,91 kg. Cây lúa là đối tượng tiêu thụ nhiều nhất với khối lượng từ 136,55 đến 243,05 kg, chiếm tỷ lệ từ 70,13% đến 73,00% tổng lượng thuốc toàn xã; các loại cây màu, cây ăn quả và rau tiêu thụ từ 58,17 đến 89,86 kg (chiếm 27,00% – 28,87%).

2. Thực trạng cấp phép và quản lý các điểm kinh doanh buôn bán thuốc BVTV trên địa bàn xã Tân Thành diễn ra như thế nào?
Toàn xã có 5 cơ sở kinh doanh thuốc BVTV, trong đó có 1 quầy nhà nước thuộc Trạm BVTV xã (chiếm 20%) và 4 quầy của tư nhân (chiếm 80%). Trong số 4 cơ sở tư nhân, có 3 cơ sở đã được cấp giấy phép hành nghề (chiếm 75%) và 1 cơ sở chưa có giấy phép hành nghề (chiếm 25%). Toàn bộ 13 loại thuốc được bán tại các điểm này đều nằm trong danh mục thuốc được phép sử dụng tại Việt Nam.

3. Tỷ lệ nông dân sử dụng đầy đủ trang bị bảo hộ lao động khi phun thuốc là bao nhiêu và thiết bị nào ít được sử dụng nhất?
Tỷ lệ người dân sử dụng đầy đủ các trang phục, thiết bị bảo hộ lao động khi phun thuốc rất thấp, chỉ đạt 16,40% (23/140 người). Dụng cụ ít được người dân sử dụng nhất là kính mắt bảo hộ với tỷ lệ 6,40% (9/140 người), trong khi khẩu trang và mũ nón đạt tỷ lệ sử dụng cao nhất (lần lượt là 93,60% và 92,90%).

4. Hành vi xử lý bao bì, vỏ chai thuốc BVTV sau khi sử dụng của người dân địa phương tồn tại những vấn đề gì?
Đa số người dân xử lý bao bì không đúng quy định: có tới 41,43% số người vứt bỏ trực tiếp tại nơi sử dụng (bờ ruộng, đường đi, dưới lòng ruộng) và 26,43% vứt thẳng ra sông, ao, hồ, kênh mương. Chỉ có 10,72% người dân bỏ bao bì vào các bể thu gom đặt ngoài đồng và 3,57% tự đem chôn hoặc đốt trong vườn nhà.

5. Những triệu chứng cơ năng và bệnh lý nào xuất hiện với tỷ lệ cao nhất ở người trực tiếp tiếp xúc với thuốc BVTV tại xã Tân Thành?
Các triệu chứng cơ năng ghi nhận tỷ lệ cao nhất gồm: cảm giác uể oải (86,43%), đau đầu (83,57%), da mẩn ngứa (82,14%), hoa mắt chóng mặt (78,57%) và buồn nôn (70,71%). Về bệnh lý mắc phải, bệnh về mắt xuất hiện nhiều nhất với tỷ lệ 95,00% (133/140 người), tiếp theo là các bệnh lý về mũi họng với tỷ lệ 89,29% (125/140 người).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Văn Hằng đã phản ánh thực trạng sử dụng và quản lý thuốc BVTV tại xã Tân Thành, huyện Phú Bình năm 2015 thông qua các số liệu khảo sát định lượng chi tiết. Nghiên cứu đã làm rõ những tồn tại nghiêm trọng trong hành vi canh tác, đặc biệt là tình trạng 67,86% bao bì nguy hại bị xả thải bừa bãi ra đồng ruộng, kênh rạch và tỷ lệ sử dụng đầy đủ đồ bảo hộ lao động chỉ đạt 16,40%. Các dẫn liệu điều tra sức khỏe đã chứng minh mối liên hệ giữa thói quen phun xịt thiếu an toàn với sự xuất hiện phổ biến của các triệu chứng ngộ độc thần kinh cơ năng cùng bệnh lý nhãn khoa, tai mũi họng ở người lao động. Các giải pháp quản lý chặt chẽ mạng lưới kinh doanh tư nhân và xây dựng bể bê tông thu gom rác thải nguy hại nông nghiệp được đề xuất có tính ứng dụng thực tiễn cao, hỗ trợ địa phương thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới.