CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TRẠNG PHÁP LUẬT TÒA ÁN TUYÊN BỊ CÁO KHÔNG CÓ TỘI 1. Lý luận về bảo vệ quyền con người 1. Khải quát tư tưởng về quyền con người Nhân quyền là cách gọi vắn tắt hay đơn giản của “các quyền con người” là một hiện tượng xã hội và là một phạm trù chính trị - pháp lý đã xuất hiện từ những thời đại xa xưa của văn minh nhân loại. Theo đó, sự xuất hiện, hình thành và phát triển của những tư tưởng về nhân quyền từ thời cổ đại đến trước Thế kỷ XX được khái quát như sau3: Thứ nhất, những tư tưởng về các quyền con người trong thời kỳ cổ đại: từ các Kinh điển về tôn giáo trong thời kỳ cổ đại của 03 tôn giáo lớn của nhân loại đó là các giáo huấn (lời răn) của Phật giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo đã cho phép khẳng định rằng, mặc dù còn có sự khác nhau khi đưa ra các luận điểm để lý giải về nguồn gốc xuất hiện của con người và của các tôn giáo, nhưng nhìn chung các tôn giáo đều có nhiều tư tưởng, giáo luật thể hiện sự tôn trong phẩm giá con người, bảo vệ con người, đặc biệt là những người yếm the (phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật, v.) và đề cao sự bình đẳng.Đây có thể coi là những tư tưởng đầu tiên của nhân loại có tính hệ thống và nội dung rõ ràng về quyền con người.
Như vậy, cho dù ở các mức độ nhiều - ít khác nhau nhưng rõ ràng là ngay từ trong thời đại xa xưa của nhân loại đã có sự xuất hiện và phản ánh bước đầu những suy ngẫm, ý tưởng, tư duy, quan niệm về điều ác và điều thiện, lòng nhân ái và tình thương yêu đoi với những người nghèo khổ và khuyết tật, những người già và trẻ em, cũng như nghĩa vụ và trách nhiệm, tự do và bình đẳng, v. với tư cách là những nền tảng sơ khai đầu tiên của nhân loại đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của các quyền con người mà sau này đã dần dần được hình thành và phát triển trở thành các quan điểm và những tư tưởng bất hủ về nhân quyền. Các Kinh điển khái quát là: 3 GS. Lê Cảm vàNguyênTrọng Điệp: Bảo vệ các quyềncon người bằng pháp luật hình sự thực định Việt Nam, Nxb Chính tri quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, xem từtr.; (iii) Các di sản pháp lý khác: Bộ luật Hammurabi trong Thế kỷ XII trước Công nguyên của nhà vua thứ 6 của Babilon với tư cách là Bộ luật cổ nhất thế giới, các đạo luật XII bảng của La Mã cổ đại, các sắc lệnh VII, XII, XIII được khắc trên bia đá của Đại đế Asoka là bậc minh quân kiệt xuất của Ản Độ các năm 304-232 trước Công nguyên.
Thứ hai, những tư tưởng về các quyền con người trong thời kỳ trung đại và cận đại: những tư tưởng về nhân quyền được phản ánh trên 02 bình diện, bên cạnh việc ghi nhận trên một số văn bản chính trị pháp lý của thế giới thì còn được trình bày ở các mức độ khác nhau trong các tác phẩm của một số nhân vật nổi tiếng. Theo đó: (i) Một so văn bản chính trị pháp lý được liệt kê khái quát, gồm: 1) Bản Đại hiến chương của Anh quốc được soạn thảo năm 1215 đã ghi nhận một loạt các điều khoản khẳng định rõ nét các quan điểm tiến bộ về các quyền và tự do, cũng như sự bình đẳng của con người trước Tòa án; chẳng hạn như: Điều 38 quy định không ai “có thể khép bất cứ một người nào đó vào luật của mình nếu không có nhần chứng đáng tin cậy được đưa ra với mục đích này”, v.; 2) Luật công bố về các quyền tự do của thần dân và việc thừa kế ngai vàng (Bộ luật nhân quyền của Anh quốc thông qua năm 1689) ghi nhận các điều khoản lên án kịch liệt sự lạm dụng quyền lực của vua chúa và long trọng tuyên bố các quyền và tự do của con người; 3) Bản Tuyên ngôn độc lập 1776 và Bộ luật về các quyền năm 1791 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Do hai văn bản này không chỉ nói về quyền độc lập, tự quyết của dân tộc, về các quyền tự nhiên và tự do của con người mà còn nói cả về sự hạn chế và phân công quyền lực nhà nước, do đó 02 văn bản này được nhiều nhà luật học đánh giá với tư cách là Tuyên ngôn nhân 12 quyền đầu tiên và xuất sắc của nhân loại; 4) Bản Tuyên ngôn các quyền con người, quyền công dân của Pháp năm 1789, đặc biệt quan trọng là các quyền liên quan đen các quyền tự nhiên và tự do của con người ở các Điều 1-11 và Điều 18. (ii) Một số nhân vật tiêu biểu mà các luận điểm, quan niệm và suy ngẫm được trình bày trong tác phẩm của họ ở các mức độ khác nhau đã thực sự góp phần thúc đẩy cho tiến trình hình thành và phát triển của những tư tưởng về các quyền con người ở giai đoạn này.
Sự lên án gay gắt chế độ phong kiến tàn bạo và vô pháp luật, một loại các luận chứng của các cách tiếp cận mới liên quan đến những tư tưởng về các quyền tự nhiên và tự do của con người, đặt vấn đề về sự cần thiết của việc ngự trị pháp luật trong các quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân, v. và nhiều vấn đề khác trong lĩnh vực nhân quyền góp phần hình thành nên những tư tưởng tiến bộ về các quyền con người đã được phản ánh trong các tác phẩm nổi tiếng của một số nhà tư tưởng nổi tiếng: G. Như vậy, quyền con người là một phạm trù lịch sử - cụ thể, là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất. Các quyền của con người là những giá trị xã hội được con người nhận thức, thừa nhận và dần được thể chế hóa trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và được các quốc gia thừa nhận, cam kết thực hiện.
Các quyền công dân là hình thức pháp lý, biểu hiện cụ thể của quyền con người được pháp luật của quốc gia ghi nhận. Tuy vậy, không đồng nhất giữa quyền con người và quyền công dân, không đồng nhất giữa các giá trị; quyền con người là những giá trị mà cộng đồng quốc tế nhận thức, thừa nhận, còn quyền công dân chỉ là nhận thức và thừa nhận của một quốc gia cụ thể. Vì vậy, không ít những trường hợp giữa quyền con người và quyền công dân vẫn có những khoảng cách nhất định4. 4 Phạm Hồng Thái và Nguyên Thị Thu Hương: Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp ỉuậthành chính VỉệtNam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 28 (2012) 1-7.
Bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng pháp luật Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận. Theo đó, các bảo đảm pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định, là cốt lõi, là sự thể chế hóa các bảo đảm chính trị, kinh tế, xã hội, tồ chức thành các chuẩn mực có tính bắt buộc mà Nhà nước, các cơ quan nhà nước và xã hội phải thực hiện để bảo đảm các quyền con người, quyền công dân. Các bảo đảm pháp lý rất đa dạng, phong phú, trước hết là sự ghi nhận các quyền con người, quyền công dân, đến việc tạo các điều kiện pháp lý, các điều kiện tổ chức, việc thiết lập cơ chế, bộ máy chuyên trách bảo đảm các quyền con người, quyền công dân. Nói cách khác, bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng pháp luật là sự ghi nhận về mặt lập pháp, thực thi về mặt hành pháp và bảo vệ về mặt tư pháp bởi các quốc gia cũng như bởi cộng đồng quốc tế; là việc xác định các biện pháp pháp lý, các biện pháp tổ chức, cơ chế để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi bị xâm phạm từ phía cơ quan công quyền, hay từ các chủ thể khác nhằm khôi phục các quyền đã bị xâm phạm.
Những giá trị xã hội cao quý nhất của nền văn minh nhân loại là các luận điểm về tôn trọng và bảo vệ quyền con người bằng pháp luật đã được ghi nhận thành các chuẩn mực quốc tế tối thiểu. Theo đó, bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên hợp năm 1948 với những tuyên bố bất hủ: ‘việc đạt tới một the giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng ỉà nguyện vọng cao cả nhất của con người ” và Điều 11 khẳng định “l)Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ; 2) Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp Những luận điểm đó đã trở 14 thành các chuẩn mực quốc tế mang tính bắt buộc để các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng, thực thi và nội luật hóa để cụ thể vào pháp luật của quốc gia mình. Trở lại lịch sử, như nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chúng ta chịu sự cai trị của chế độ phong kiến lâu dài và sau đó là chế độ thuộc địa của thực dân đế quốc; trong khi chúng ta đang đấu tranh để thoát khỏi cảnh lầm than thì ở phương Tây, các nước đã trở thành những nền văn minh của nhân loại. Đế có nhân quyền, người dân Việt Nam đã phải trải qua nhiều thế kỷ chiến tranh gian khổ, đấu tranh giành độc lập.
Như vậy, để giải quyết vấn đề nhân quyền và bảo đảm cho việc thực hiện nhân quyền thì độc lập là mục tiêu tiên quyết, là một trong những nền tảng quan trọng hướng tới bảo vệ quyền con người, nhân quyền của Việt Nam.