Đặt vấn đề Ở Việt Nam hiện nay vấn đề đặt ra là phải sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên đất đai, khí hậu phát huy vai trò của cây trồng, vật nuôi. Trƣớc tiên cần giải quyết vấn đề phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng các hệ thống canh tác, đƣa vào các loại cây trồng vật nuôi phù hợp đem lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện đời sống nhân dân, tạo công ăn việc làm đảm bảo môi trƣờng sinh thái bền vững. Trong những hệ thống sử dụng đất nâng cao hiệu quả kinh tế, tận dụng đất bền vững hiện nay là nông lâm kết hợp (NLKH). Thực tiễn sản xuất cũng nhƣ nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra cho ta thấy NLKH là một phƣơng thức sử dụng tài nguyên tổng hợp giữa ngành lâm nghiệp và ngành nông nghiệp (gồm: trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản).
Phƣơng thức này có nhiều ƣu điểm đem lại rất nhiều lợi ích: Cung cấp lƣơng thực, thực phẩm, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nông hộ, giảm rủi ro trong sản suất. Ngoài ra NLKH cho lợi ích trong việc bảo tồn đất và nƣớc, bảo tồn nguồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học hơn nữa còn làm giảm hiệu ứng nhà kính. Vì điều kiện sản xuất và lợi ích của NLKH rất phù hợp với nƣớc ta nên Đảng và Nhà nƣớc đã coi NLKH là chiến lƣợc lâu dài trong phát triển kinh tế. Để thúc đẩy sự phát triển của các hệ thống canh tác NLKH Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức đã có rất nhiều chƣơng trình trồng 5 triệu ha rừng, dự án 135.
Nhà nƣớc và nhân dân ta đã có nhiều cố gắng trong việc cải tiến nhiều chính sách cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế và môi trƣờng từng vùng nhằm phát huy tiềm năng. 2 Xã Cần Yên là xã đƣợc tái lập theo nghị định số 183/NĐ-CP ngày 13/12/2007 của Chính Phủ. Là xã vùng cao biên giới của huyện Thông Nông, cách trung tâm huyện khoảng 25km về phía Bắc, cách trung tâm TP Cao Bằng 80km về phía Tây Bắc. Vì là xã miền núi nên chƣa có điều kiện phát triển các ngành công nghiệp mới, thƣơng mại và dịch vụ mà chủ yếu phát triển nông, lâm nghiệp.
Dƣới sự quan tâm hỗ trợ của Đảng và Nhà Nƣớc cùng nhiều dự án phát triển kinh tế đã đƣa ra và áp dụng một số mô hình NLKH vào sản xuất. Để giúp ngƣời dân xã Cần Yên, Huyện Thông Nông, Tỉnh Cao Bằng có đƣợc cuộc sống ổn định hơn, đồng thời tìm hiểu kỹ và sâu hơn trong việc phát triển NLKH cũng nhƣ giải pháp phát triển kinh tế của xã tôi tiến hành nghiên cứ đề tài: “Đánh giá thực trạng phát triển NLKH tại xã Cần Yên, Huyện thông Nông, Tỉnh Cao Bằng”. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 1. Mục đích - Phát hiện tiềm năng và hạn chế của việc phát triển NLKH tại xã Cần Yên- Thông Nông- Cao bằng - Góp phần đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả sản xuất của mô hình NLKH thông qua đó ổn định nâng cao đời sống của ngƣời dân xã Cần Yên- Thông Nông- Cao Bằng.
Mục Tiêu - Đánh giá đƣợc tiềm năng ĐKTN - KTXH tại địa phƣơng. - Đánh giá đƣợc hệ thống NLKH có tại địa bàn nghiên cứu. - Lựa chọn đƣợc các mô hình NLKH điển hình trên địa bàn xã. - Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả của các mô hình NLKH tại địa phƣơng.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập - Giúp cho sinh viên củng cô và hệ thống hóa lại kiến thức đã học. - Làm quen với việc nghiên cứu khoa học, làm quen với công việc ngoài thực tế. - Là cơ hội để sinh viên cọ sát với thực tiễn sản xuất, áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Phân loại và đánh giá thực trạng các mô hình NLKH tại xã Cần Yên - Tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển NLKH từ đó đƣa ra một số giải pháp khắc phục những khó khăn và phát huy những thuận lợi nhằm phát triển kinh tế tại xã Cần Yên. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Sự ra đời của NLKH Theo số liệu thống kê 1943 độ che phủ toàn quốc là 42%, năm 1993 giảm xuống còn 27%, điều này chứng tỏ diện tích rừng nƣớc ta giảm xuống một cách nghiêm trọng.
Trong khi đó rừng là một yếu tố hết sức quan trọng của môi trƣờng sinh thái. Chính vì vậy mà hơn lúc nào hết vấn đề rừng tại Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc trên toàn thế giới đang đƣợc cả xã hội quan tâm nhƣ ngày nay. Đứng trƣớc tình hình đó đến đầu thế kỉ này ngƣời ta đã tìm ra một hƣớng đi mới đúng đắn hơn và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn đó chính là phát triển rừng dựa trên lợi ích của ngƣời dân sống gần rừng và cạnh rừng, bên cạnh đó lâm nghiệp xã hội ra đời với mục tiêu phát triển bền vững, rừng sẽ đƣợc ngƣời dân bảo vệ chăm sóc và phát triển, khi giao rừng cho ngƣời dân nhà nƣớc sẽ cung cấp hỗ trợ vốn, kỹ thuật cùng tìm ra những khó khăn và giải pháp thực hiện. NLKH chính là một phƣơng thức canh tác bền vững hiệu quả mà ngành lâm nghiệp xã hội cung cấp chuyển giao cho bà con.
Mặt khác hệ thống NLKH có thể đƣớc sử dụng không những cho các hộ nông dân cá thể mà còn cho cả một cộng đồng dân cƣ. Chính vì vậy mà sự ra đời của hệ thống NLKH đã mở ra một hƣớng phát triển mới phù hợp với ngƣời dân nên hiện nay đƣợc ngƣời dân tham gia sản xuất nhiều với quy mô ngày một lớn. Định nghĩa NLKH NLKH là lĩnh vực khoa học mới đƣợc đề xuất vào thập niên 1960 bởi King(1969). Qua nhiều năm, nhiều khái niệm khác nhau đƣợc phát triển để diễn tả để hiểu biết rõ hơn về NLKH nhƣ sau: 5 “NLKH là hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt đƣợc sản xuất cùng một lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích thích hợp để tạo các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cƣ tại địa phƣơng” (PCARRD, 1979) [ 13] Theo Nair 1987: “NLKH là hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với hoa màu và vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện không gian và thời gian để tăng sức sản xuất tổng thể của cây trồng và vật nuôi một cách bền vững trên đơn vị theo diện tích đất đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn.” [15] Lundgreen và Raintree (1983) đã định nghĩa NLKH nhƣ sau: NLKH là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó có cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre hay CAQ, cây CN…) đƣợc trồng có suy tính trên cùng đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoa màu hoặc vật nuôi bên dƣới đan xen theo không gian hay thời gian.
Trong các hệ thống NLKH có mối quan hệ tác động qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng”. [14] Bene và các cộng sự, 1977; Leaky, 1996 và một số nhà nghiên cứu khác cũng đƣa ra những định nghĩa khác nhau về NLKH. Để đi đến thống nhất vào năm 1997, Trung Tâm Quốc Tế Nghiên Cứu về NLKH (viết tắt là YCRAF) đã xem xét khái niệm NLKH và phát triển nó rộng hơn nhƣ là một hệ thống sử dụng đất giới hạn trong các nông trại. Ngày nay nó được định nghĩa như là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ sự phối hợp cây lâu năm và nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến “kinh tế trang trại”.
Một cách đơn giản, nông lâm kết hợp là trồng cây trên nông trại. ICRAF đã định nghĩa nó nhƣ là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động và lấy yếu tố sinh thái làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại và vào hệ sinh thái nông nghiệp làm đa dạng và bền vững 6 sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho người canh tác ở các mức độ khác nhau. Hay nói cách khác một hệ thống NLKH đầy đủ nó bao gồm: + Hai hay nhiều hơn hai loại thực vật (hay thực vật và động vật) trong đó có ít nhất một loại cây gỗ lâu năm. + Có ít nhất hai hay nhiều hơn sản phẩm có hệ thống.
+ Chu kì sản xuất thƣờng lớn hơn một năm. + Đa dạng về sinh thái (cấu trúc và nhiệm vụ) và kinh tế so với canh độc canh. + Cần có một mối quan hệ tƣơng hỗ có ý nghĩa giữa thành phần cây lâu năm và các loại thành phần cây khác. + Các thành phần (cây gỗ lâu năm hoa màu hay vật nuôi) có thể phối hợp với nhau theo không gian hay thời gian trên cùng một diện tích đất.
+ Chú ý sử dụng các loại cay địa phƣơng đa dạng. + Gia tăng năng suất và các giá trị dịch vụ trên một đơn vị sản xuất. Tình hình nghiên cứu NLKH trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu NLKH trên thế giới Đi sâu vào tìm hiểu cội nguồn lịch sử của NLKH King, (1987) khẳng định rằng ở Châu Âu thời kỳ trung cổ ngƣời ta phát quang rừng, đốt cành nhánh và cành tác cấy lƣơng thực mục đích là để tận dụng dinh dƣỡng của đất rừng, tuy nhiên kiểu canh tác này không phổ biến và tồn tại lâu dài,nhƣng ở phần Lan và Đức kiểu canh tác này tồn tại đến những năm 1920.
Ở vùng nhiệt đới sự ra đời của phƣơng thức Taungya đƣợc xem nhƣ là sự khởi đầu cho việc phát triển NLKH sau này.Theo BLafozd, 1958 nguồn góc của phƣơng thức này gắn liền với một địa phƣơng ở Mianma. Ngôn ngữ Mianma Taung nghĩa là canh tác, Ya nghĩa là đồi núi nhƣ vậy Taungya là phƣơng thức canh tác trên đất đồi núi điều đó cũng đồng nghĩa với phƣơng thức canh tác trên đất dốc. 7 Taungya đƣợc phát triển dựa trên cơ sở hệ thống của ngƣời Đức “Waldfedbau” trong đó bao gồm canh tác cây nông nghiệp ngay tại rừng, lúc đó ngƣời ta tiến hành quá trình phục hồi rừng bằng cách gieo hạt tếch.