Chương 1. Cơ sở pháp lý của đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Chương 2. Thực trạng công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn phường Khương Đình, phường Hạ Đình quận Thanh Xu©n , thành phố Hà Nội. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn quận Thanh Xu©n.
14 - - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ĐĂNG KÝ, CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT 1.1 Vai trò của đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với công tác quản lý và sử dụng đất đai GCNQSDĐ là căn cứ quan trọng để ngƣời sử dụng đất bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, mặt khác là căn cứ để Nhà nƣớc quản lý tài nguyên quý giá này. Ngoài hai đối tƣợng liên quan đến quản lý, sử dụng trực tiếp thì GCNQSDĐ còn là cơ sở để đối tƣợng khác nhƣ công ty, ngân hàng,… đƣa ra các quyết định có liên quan đến quá trình quản lý và sử dụng đất.1 Đối với người sử dụng đất Đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt (vừa là tƣ liệu lao động, vừa là đối tƣợng lao động trong sản xuất nông nghiệp) của các ngành sản xuất. Mặt khác đất đai là địa điểm diễn ra các hoạt động sản xuất, vui chơi… của con ngƣời. Đất đai là tài sản quý giá ai cũng muốn chiếm hữu, sử dụng, vì vậy nhiều tranh chấp xảy ra trong quá trình sử dụng đất đai.
Do đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sử dụng đất đai, Nhà nƣớc ban hành GCNQSDĐ. + Là cơ sở để ngƣời sử dụng đất yên tâm sử dụng và đầu tƣ vào đất đai nhằm sử dụng đất đai một cách hiệu quả, và tiết kiệm. + Là cơ sở để ngƣời sử dụng đất thực hiện các quyền lợi hợp pháp nhƣ: Mua bán, thừa kế, chuyển nhƣợng, góp vốn… bằng quyền sử dụng đất không gặp bất cứ trở ngại nào về pháp luật. + Là cơ sở để ngƣời sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nƣớc, đặc biệt là nghĩa vụ tài chính: Nộp thuế trƣớc bạ, thuế từ chuyển quyền sử dụng đất, các loại thuế có liên quan….
+ Là căn cứ để ngƣời sử dụng đất sử dụng đúng mục đích, đúng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. 15 - - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật kinh doanh bất động sản đã đƣợc đƣa vào áp dụng trong thị trƣờng bất động sản, quyền sử dụng đất là một loại tài sản có giá trị lớn đƣợc phép chuyển nhƣợng, cho thuê… trong thị trƣờng bất động sản. GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là điều kiện để ngƣời sử dụng đất tham gia vào thị trƣờng bất động sản. Vì vậy GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là công cụ để ngƣời sử dụng đất tham gia vào thị trƣờng bất động sản làm cho thị trƣờng bất động sản hoạt động lành mạnh.2 Đối với nhà nước GCNQSDĐ do Nhà nƣớc ban hành, vì vậy nó là công cụ trong việc quản lý đất đai có hiệu quả và khoa học.
+ Là công cụ để Nhà nƣớc thực hiện các kế hoạch sử dụng đất nhằm giúp cho việc sử dụng đất có hiệu quả theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất do Nhà nƣớc đặt ra. + Là công cụ cung cấp thông tin trong quá trình quản lý đất đai, đặc biệt là quá trình kiểm kê đất đai: tổng diên tích tự nhiên, hiện trạng sử dụng đất, chủ sử dụng đất. + Là công cụ để Nhà nƣớc thu các khoản phí và lệ phí đúng đối tƣợng. + Là cơ sở để Nhà nƣớc giải quyết các vấn đề về tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai.
+ Là căn cứ để nhà nƣớc bồi thƣờng cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất khi giải phóng mặt bằng. Đồng thời nó cũng là cơ sở để Nhà nƣớc nắm và kiểm tra sự phát triển của thị trƣờng bất động sản.3 Các đối tượng khác có liên quan Ngoài hai vai trò quan trọng đối với ngƣời sử dụng đất và Nhà nƣớc, GCNQSDĐ cũng có vai trò rất quan trọng với các đối tƣợng khác nhƣ đối với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng…ngƣời sử dụng đất còn có thêm một số quyền khác nhƣ thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất…vì vậy GCNQSDĐ là căn cứ để ngân hàng, tổ chức tín dụng đồng ý cho ngƣời sử dụng đất vay vốn kinh doanh, sản xuất. 16 - - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với các doanh nghiệp, công ty cổ phần thì GCNQSDĐ là căn cứ để xác nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất có hợp pháp hay không nhằm đảm bảo cho việc kinh doanh có hiệu quả. Đối với những ngƣời không đầu tƣ kinh doanh vào đất đai (không trƣc tiếp sử dụng đất) thì GCNQSDĐ là căn cứ pháp lý để ngƣời đầu tƣ an tâm về khoản đầu tƣ của mình.
Đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào thị trƣờng bất động sản GCNQSDĐ là cơ sở để họ nắm các thông tin cần thiết khi quyết định nhận chuyển nhƣợng, thuê…quyền sử dụng đất của mảnh đất đó. GCNQSDĐ là căn cứ quan trọng trong quá trình quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên quý này.2 Tổng quan về cơ sở pháp lý của đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở nƣớc ta 1.1 Giai đoạn từ khi có luật đất đai 1993 đến 2003 Ngày 29/12/1987, Luật đất đai đầu tiên ra đời là sự thành công của Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã khẳng định đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng là hoàn toàn đúng đắn với việc khẳng định : Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc thống nhất quản lý. Việc ban hành Luật đất đai năm 1987 nhằm đƣa công tác quản lý đất đai một cách chặt chẽ và nề nếp. Luật Đất đai năm 1987 ra đời trong bối cảnh nền kinh tế nƣớc ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa nên còn mang nặng tính chất của cơ chế cũ nên Nhà nƣớc nghiêm cấm việc mua, bán đất đai.
Vì vậy, GCNQSDĐ chỉ nhằm mục đích để Nhà nƣớc làm căn cứ quản lý quỹ đất toàn quốc. Luật ra đời chỉ giải quyết mối quan hệ hành chính về đất đai giữa Nhà nƣớc với tƣ cách là chủ thể của quyền sở hữu đất đai với ngƣời đƣợc Nhà nƣớc giao đất với tƣ cách là chủ thể của quyền sử dụng đất. Trƣớc những bất cập của Luật Đất đai năm 1987 đã làm tiền đề thúc đẩy và tạo điều kiện cho Luật Đất đai 1993 ra đời nhằm quản lý chặt chẽ đất đai hơn để đáp ứng nhu cầu sử dụng của ngƣời dân khi ngƣời dân là chủ thực sự của đất đai. Điều 17 - - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Luật Đất đai năm 1993 đất đai đƣợc phân thành 06 loại căn cứ vào mục đích sử dụng nhƣ sau : Đất nông nghiệp; Đất lâm nghiệp; Đất khu dân cƣ nông thôn; Đất đô thị; Đất chuyên dùng; Đất chƣa sử dụng; Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai có giá trị và ngƣời dân có các quyền sau: chuyển đổi, chuyển nhƣợng, thừa kế, tặng cho, thế chấp.
Do vậy, công tác cấp GCNQSDĐ giai đoạn này là việc làm cấp thiết để ngƣời dân khai thác đƣợc hiệu quả cao nhất từ đất. Nhận thấy đƣợc tính cấp thiết của vấn đề cấp GCNQSDĐ cho ngƣời dân, cơ quan các cấp, các địa phƣơng đã tập trung chỉ đạo công tác cấp GCNQSDĐ và coi nó là vấn đề quan trọng nhất trong quản lý đất đai giai đoạn này. Vì vậy, công tác cấp giấy chứng nhận đƣợc triển khai mạnh mẽ nhất là từ năm 1997. Từ khi ban hành Luật Đất đai 1993 trong quá trình thực hiện bên cạnh những tích cực cũng bộc lộ không ít những hạn chế chƣa thật phù hợp, chƣa đủ cụ thể để xử lý những vấn đề mới phát sinh, nhất là trong việc chuyển quyền sử dụng đất, làm cho quan hệ đất đai trong xã hội rất phức tạp, làm cho kinh tế phát triển chƣa ổn định mà còn ảnh hƣởng không nhỏ đến sự ổn định của xã hội.
Do vậy, Luật Đất đai 1993 đã có nhiều lần sửa chữa, bổ sung vào các năm 1998 và 2001 để kịp thời điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh. Kết quả trong 10 năm thực hiện Luật Đất đai năm 1993 là tích cực, đã thúc đẩy nền kinh tế, góp phần ổn định chính trị xã hội và tạo ra sự ổn định tƣơng đối trong công tác quản lý Nhà nƣớc về đất đai. Công tác cấp GCNQSDĐ và hệ thống hồ sơ địa chính cũng khá hoàn thành. Nhƣng Luật Đất đai 1993 và Luật sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2001 vẫn bộc lộ những vấn đề mới phát sinh mà chƣa có định hƣớng giải quyết cụ thể, vẫn chƣa thực sự theo kịp tiến trình chuyển đổi nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới.
Do vậy, Luật Đất đai 2003 ra đời để đáp ứng nhu cầu của thực tế tạo cơ sở để quản lý đất đai chặt chẽ hơn trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc.2 Giai đoạn từ khi có Luật đất đai 2003 đến năm 2013 Thời kỳ này, đất nƣớc ta đang đẩy mạnh phát triển theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Những bất cập của Luật Đất đai năm 1993 đƣợc bộc lộ 18 - - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rõ nét và không đáp ứng đƣợc yêu cầu trong nhiệm vụ mới về phát triển, xã hội. Để khắc phục những thiếu sót của Luật Đất đai 1993, Quốc hội đã tiến hành xây dựng Luật Đất đai mới thay thế cho Luật Đất đai 1993. Ngày 11/11/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2002/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT.
Ngày 26 tháng 12 năm 2003, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất đai mới - Luật Đất đai 2003.