MỞ ĐẦU Mục tiêu của đề tài nhánh 2 nhằm nêu lên một bức tranh về hiện trạng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở cấp toàn quốc và vùng kinh tế, đồng thời đánh giá chất lượng của quá trình chuyển dịch. Việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong chương này mới chỉ dừng lại ở cấp các yếu tố vỹ mô thông qua thống kê định lượng. Các phương pháp khác được áp dụng trong các chương tiếp theo sẽ hoàn chỉnh bức tranh phân tích với đầy đủ các yếu tố. Đề tài nhánh này được kết cấu dựa trên các chỉ tiêu tổng hợp đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn đề xuất bởi các nghiên cứu về cơ sở lý luận nêu trên.
Việc so sánh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các yếu tố tác động ở các vùng sinh thái khác nhau được phân tích theo từng tiêu chí để tránh trùng lặp. Về thực chất cơ cấu kinh tế của vùng sinh thái là thể hiện kết quả tổng hợp của các hoạt động chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh trong vùng. Hơn nữa các công cụ chính sách tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được quyết định ở cấp tỉnh, vì vậy trong chương này chúng tôi áp dụng phương pháp phân kiểu các tỉnh theo các tiêu chí chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sau đó xem xét sự đồng nhất của các tỉnh trong cùng vùng sinh thái. Trong thời kỳ từ sau Đổi mới đến nay, theo nhiều chuyên gia quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam chỉ thực sự diễn ra một cách rõ nét trong giai đoạn từ 1996 cho tới nay, khi mà nông nghiệp chuyển hướng sản xuất hàng hoá ở hâu hết các vùng sinh thái.
Giai đoạn 1988 -1995 thường được đặc trưng bởi quá trình thâm canh nông nghiệp để đạt mức tự cấp về lương thực đối với nông nghiệp. Quá trình này đặc biệt quan trọng khi nông nghiệp Việt nam đang đứng trước thử thách hội nhập kinh tế AFTA và WTO với các yêu cầu về chất lượng và tiêu chuẩn hoá nông sắn ngày càng cấp bách. Vì vậy, để làm rõ khái niệm và bản chất của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông thôn ở nước ta chúng tôi nghiên cứu cơ sở khoa học của quá trình này nhằm xác định một hệ thống tiêu chí đánh giá toàn diện quá trình này và áp dụng vào phân tích các số liệu thống kê của cấp tỉnh của cả nước trong giai đoạn 1996-2003. 19 Trong nội dung này, việc đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn không thể tách rời cơ cấu của nền kinh tế nói chung, cũng không thể tách rời cơ cấu nông nghiệp.
Các tiêu chí phân tích có tính đặc trưng cho các quá trình nói trên, đông thời căn cứ vào tính sắn có của hệ thống thống kê của Việt Nam, được xây dựng thành Hệ thống tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là kết quả của đề tài nhánh 1: Các chỉ tiêu kết quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế e_ Các chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế theo ngành thuộc 3 khu vực sản xuất như tỷ lệ nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong GDP. e_ Cơ cấu xuất khẩu và tỷ trọng xuất khẩu nông sản. Các chỉ tiêu về nguồn lực: các yếu tố đầu vào của nền kinh tế e Các chỉ tiêu về cơ cấu lao động như tỷ lệ lao động nông lâm ngư nghiệp trong tổng số lao động, chất lượng lao động, sự di động của lao động. e Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp: đô thị hoá, quy mô hộ nông nghiệp, tình trạng manh mún ruộng đất, hộ nông dân không có đất.
e Cơ cấu vốn đầu tư xã hội cho nông nghiệp, hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp. e Cơ cấu các thành phần kinh tế, phân bổ vốn giữa các thành phần kinh tế. Các chỉ tiêu đánh giá hậu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế e Hệ số đa dạng của các ngành sản xuất trong khu vực nông lâm ngư, nông nghiệp và trồng trọt. e Tang trưởng giá trị sản xuất và cơ cấu của các ngành hàng trong khu vực nông lâm ngư nghiệp.
e_ Năng suất đất đai và năng suất lao động nông nghiệp. e Các chỉ tiêu thể hiện tác động của chuyển dịch cơ cấu ở cấp hộ nông dân: tăng thu nhập, tý lệ đói nghèo, phân hoá thu nhập (hệ số Gini), mức độ sản xuất hàng hoá và các chỉ tiêu xã hội theo mục tiêu của thiên niên kỷ. 20 PHẦN I: ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN VÀ CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP Ở CẤP VỸ MÔ, GIAI ĐOẠN 1996 — 2003 L1. BIẾN ĐỘNG CỦA CÁC TIÊU CHÍ CHÍNH ĐÁNH GIÁ CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ 1.
Tăng trưởng GDP chung và của khu vực nông nghiệp sau Đổi mới Đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến nay, nhất là thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội 13 năm 1990-2003 đã đem lại cho đất nước ta những thành tựu to lớn, đặc biệt là đảm bảo được một tỷ lệ tăng trưởng cao và tương đối bền vững trong 13 năm thực hiện chiến lược. Quá trình đổi mới ở Việt Nam được tiến hành dần dân từng bước và là sự kết hợp giữa phân phối lại nguôn lực sản xuất, tự do hoá thị trường và ổn định kinh tế vỹ mô. Trên thực tế, đổi mới được bắt đầu từ các biện pháp phân phối lại tư liệu sản xuất cho hộ nông dân và cá thể vào năm 1988, sau đó là kết hợp với việc tự do hoá dân dân thị trường trong nước, rồi đến ngoài nước trong thập kỷ 90. Song song với hai quá trình trên là các chính sách tạo ồn định của kinh tế vỹ mô có hiệu quá.
Kết quả là GDP sau 13 năm tăng lên 2,5 lần; tích luỹ từ nội bộ nên kinh tế từ chỗ không đáng kể trước năm 1990 đã tăng đến mức 29% GDP vào năm 2003; từ tình trạng khan hiếm hàng hoá nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nên kinh tế; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chuyển biến nhanh; cơ cấu kinh tế dần dần chuyển đổi theo hướng tích cực. Tóm lại, đổi mới và thực hiện chiến lược đã không chỉ đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội và phát triển một bước nền kinh tế như mục tiêu ban đầu đề ra mà còn cho phép bước đầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế và nâng cao sức mạnh về mọi mặt của đất nước. Trong quá trình thực hiện chiến lược, với mốc cải cách quan trọng là Khoán 10 (1988), nông nghiệp đã đóng một vai trò khá tích cực, thể hiện ở: Nông nghiệp đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá và toàn diện trên nhiều lĩnh vực; giá trị sản lượng toàn ngành tăng bình quân hàng năm 5,7% vượt mục 21 tiêu đề ra trong chiến lược (mục tiêu chiến lược là 4 - 4,2%), trong đó nông nghiệp tăng 5,4% (lương thực tăng 4,3%, cây công nghiệp 10%, chăn nuôi 5,4%); thuỷ sản tăng 9,1%; lâm nghiệp tăng 2,1%. Sản lượng lương thực bình quân mỗi năm tăng trên 1 triệu tấn; năm 2003 sản lượng lương thực đạt 37,7 triệu tấn, đưa lương thực bình quân đầu người từ 294,9 kg năm 1990 lên trên 466 kg năm 2003, đã có đủ lương thực tiêu dùng trong nước, có dự trữ và tiếp tục xuất khẩu với số lượng lớn.
Vấn đề an ninh lương thực được giải quyết hoàn toàn tại các vùng sinh thái khác nhau. Trong giai đoạn sau Đổi mới tăng trưởng GDP chung của Việt Nam đạt tốc độ cao từ trong khoảng 1990-1995, sau đó giảm liên tục đến năm 1999. Từ năm 2000 tăng trưởng GDP chung có xu thế phục hồi về tốc độ tăng và đạt 7,34% vào năm 2003. Trong hoàn cảnh đó tăng trưởng GDP nông nghiệp có xu thế tăng ổn định hơn và biến động xung quanh 4%/năm.
Trong giai đoạn 1990-1995, tăng trưởng nông nghiệp cùng chiều với GDP chung. Tuy nhiên trong giai đoạn giảm tăng trưởng kinh tế chung từ 1996 đến 1999, chính nông nghiệp đã tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp đã chậm lại, đóng góp của nông nghiệp vào tăng trưởng GDP chung có xu hướng giảm: năm 2000 là 16,2% và năm 2003 chỉ còn dưới 10%'. Đây là một thách thức đòi hỏi phải có sự điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất cho hợp lý, trong đó trọng tâm đặt ra là cải thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường hội nhập quốc tế.
Đồ thị 1: Tốc độ tăng trưởng GDP chung và GDP nông nghiệp trong giai đoạn 1990 — 2003 (%/năm) 12 10 —— Tăng trưởng GDP. —=— Tăng trưởng GDP. oN & DO D = + + - os se Nguồn : Tổng cục thống kê (2003) 1 Dương Ngọc, 2004. Sức bật từ tăng trưởng GDP năm 2003, trong Kinh tế Việt nam 2003-2004.
22 Về chất lượng tăng trưởng cũng được cải thiện nhưng còn chưa cao. Để đánh giá định lượng các yếu tố vào tăng trưởng người ta dùng hàm sản xuất với ba yếu tố chính là lao động, vốn và năng suất yếu tố tổng hợp (TEP hay hiệu quả của công nghệ). Theo tính toán của TCTK, so sánh hai giai đoạn trước và sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1998, vai trò của các yếu tố lao động và của công nghệ đã được cải thiện trong việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế hàng năm. Tuy nhiên trong cả hai giai đoạn vai trò của vốn vẫn đóng góp chủ yếu.
Vai trò của khoa học công nghệ có tăng nhưng it quan trong hơn các yếu tố lao động và vốn trong việc đóng góp vào tăng trưởng. Như vậy, chất lượng tăng trưởng có được cải thiện một bước nhưng còn thấp so với các nước khác, thể hiện ở việc nền kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chủ yếu nhờ vào lao động và vốn, còn vai trò của công nghệ chỉ đóng góp 22,5%, so với 35% của Thái lan, 41% của Philippin và 43% của Inđônêxia trong giai đoạn hiện tại.