Chương 1. Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu - Chương 2.Cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước: Trình bày tổng quan về địa điểm nghiên cứu,tình hình phát triển kinh tế xã hội, sự thay đổi thu nhập theo thời gian, ngành nghề, trích dẫn, ghi nhận các tài liệu, sách báo và các nghiên cứu trước đó có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu: Nội dung chương này lần lượt trình bày cơ sở lý thuyết, phân tích thống kê mô tả và so sánh các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, mô hình hồi quy Binary logit. Kết quả nghiên cứu: Tác giả sẽ trình bày và thảo luận các kết quả phân tích từ số liệu sơ cấp đã khảo sát, ước tính hàm hồi quy và thực hiện phân tích, bình luận các nhân tố liên quan ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất.
Kết luận và gợi ý chính sách: Trình bày những kết luận và kiến nghị rút ra được từ kết quả phân tích thực tế cùng với những thảo luận từ chương 4 theo các mục tiêu, giả thuyết nghiên cứu ban đầu và hàm ý chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Cơ sở lý thuyết của mô hình nghiên cứu Việc thu hồi đất và di chuyển chổ ở của người dân có thể gây ra thiếu thốn nghiêm trọng và những ảnh hưởng lớn đến kinh tế, xã hội, môi trường nếu không có chính sách phù hợp. Có nhiều sự thay đổi thu nhập do thay đổi điều kiện sống, chẳng hạn như Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1995) cho rằng khi lấy đất người dân cần chú ý đến sinh kế và thu nhập; những người chịu ảnh hưởng nên được trợ giúp để họ cải thiện mức sống, hoặc ít nhất là phục hồi cuộc sống của họ về mức ngang bằng cuộc sống cũ hoặc cao hơn trước khi họ bị thu hồi và di chuyển.
Ngân hàng Thế giới (WB, 2004) cụ thể hơn bằng cách đưa ra sinh kế cho người dân bị thu hồi đất như tạo công ăn việc làm, cung cấp tín dụng và các giải pháp kinh tế khác. Luận văn dựa vào khung phân tích sinh kế bền vững của Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DIFD,2003). Nhóm dễ bị tổn thương Nhóm chính sách - Đời sống sinh kế người dân sinh kế - Người dân mất đất có thu nhập thay đổi Nhóm tài sản Nhóm chiến lược sinh kế Nhóm kết quả sinh sinh kế - Nghiên cứu các yếu tố tác kế - Con người động sinh kế - Cuộc sống ổn định - Tài chính - Phân tích mức độ ảnh vật chất, tinh thần - Vật chất hưởng - Xã hội - Tự nhiên Các yếu tố ảnh hưởng - Trình độ học vấn - Số lao động trong hộ - Tuổi chủ hộ - Tỉ lệ phụ thuộc - Diện tích đất thu hồi - Số lao động trong khu công nghiệp - Khả năng đầu tư sản xuất trong kinh doanh - Thu nhập khác - Tôn giáo Nguồn: Dựa vào khung sinh kế bền vững(DIFD, 2003) Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Tài sản sinh kế là việc kết hợp 05 loại tài sản gồm nguồn vốn con người (Human capital), nguồn vốn tự nhiên (Natural capital), nguồn vốn tài chính (Financial capital), nguồn vốn vật chất (Physical capital), nguồn vốn xã hội (Social capital) để tạo ra sinh kế tích cực cho đời sống. Nguồn vốn con người đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế, được nâng cao thông qua đầu tư trong giáo dục, huấn luyện các kỹ năng lao động để có thể đáp ứng với một hoặc nhiều nghề nghiệp.
Nguồn vốn tài chính những gì mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm tiền mặt và các khoản tài chính tương đương như tiền gửi ngân hàng hoặc các tài sản như gia súc và đồ trang sức. Nguồn vốn tự nhiên là tất cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế, như nguồn lực đất đai, nước, rừng, biển, các tài nguyên hoang dã, chất lượng không khí, mức độ đa dạng sinh học, chất thải, và một số vật chất khác. Nguồn vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế. Nguồn vốn xã hội làcác nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình.
Chúng được phát triển thông qua các mạng lưới, hợp tác giữa các thành viên nhóm chính thức; các mối quan hệ được thực hiện dựa trên niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau, trao đổi và ảnh hưởng lẫn nhau. Việc hiểu và đánh giá được thực trạng thay đổi 05 nguồn tài sản này sẽ là cơ sở trong việc đánh giá xu hướng chuyển đổi việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất, giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra các chính sách hỗ trợ phù hợp và hiệu quả hơn. Khung sinh kế bền vững biểu diễn sự tác động qua lại giữa các nhóm sinh kế. Trong mỗi nhóm sinh kế chứa đựng các yếu tố có vai trò ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự thay đổi cuộc sống của người dân.
Căn cứ nhóm tài sản sinh kế, nghiên cứu sẽ rút ra được những yếu tố nào có ý nghĩa giải thích cho sự thay đổi thu nhập của người nông dân khi bị thu hồi đất chuyển sang cuộc sống mới. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Theo mô hình sinh kế bền vững, nhóm chính sách sinh kế cho thấy sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp cho tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tác động lên nhóm bị tổn thương là người dân bị thu hồi đất. Nghiên cứu đứng trên gốc độ chính quyền địa phương tìm ra các yếu tố từ nhóm tài sản sinh kế bao gồm: Trình độ học vấn, số lao động trong hộ, độ tuổi lao động, tỉ lệ phụ thuộc, diện tích thu hồi, số lao động có việc làm trong khu công nghiệp, khả năng đầu tư sản xuất kinh doanh để có một kết quả sinh kế bền vững là nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống người dân.2 Khảo luận nghiên cứu liên quan 2. Nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Chimhwo (2002) cho thấy, khả năng cải thiện thu nhập và thoát nghèo của hộ gia đình nông dân ở Nam Phi được thực hiện thông qua khả năng tích tụ ruộng đất và gia súc ở nơi cư trú mới sau quá trình mất đất.
Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình vẫn rơi vào khả năng dễ bị tổn thương vì chưa đảm bảo được an ninh sinh kế. Việc thiếu thiếu cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội khác của cộng đồng cũng góp phần tạo nên sự dễ bị tổn thương từ các hộ dân. Kelly (2003) đã thực hiện nghiên cứu tại một nghiên cứu tại Philippines về việc hoạch định chính sách và thực hiện chính sách ở cấp độ địa phương tại vùng ngoại ô thuộc thành phố Manila năm 1990 đã hỗ trợ việc thu hồi đất phục vụ đô thị hóa. Điều này dẫn đến những người nông dân tá phải bị ảnh hưởng trong quá trình chuyển đổi này vì họ không nắm quyền sở hữu đất để được đền bù, trong khi cuộc sống phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp; đồng thời, những kỹ năng cuộc sông mới, nguồn vốn xã hội để tìm kiếm việc làm thay thế trong một nền kinh tế công nghiệp ở đô thị không đủ khiến cuộc sống dễ rơi vào tình trạng dễ bị tổn thương.
Hanstad và cộng sự (2004) cho rằng quyền sở hữu đất đai có ý nghĩa về nhiều mặt, đồng thời là nền tảng để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác hay các sinh kế thay thế. Ví dụ, quyền sở hữu đất đai đảm bảo an ninh đối với tiếp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 cận đất đai là một mục tiêu sinh kế. Đất còn là một tài sản tự nhiên giúp con người đạt được các mục tiêu khác như bình đẳng giới và sử dụng bền vững các nguồn lực (Filipe, 2005). Việc thiếu tiếp cận đối với đất đai là một hạn chế sinh kế cho người nông dân; những người không có sự đảm bảo về quyền của mình đối với đất đai, khi diễn ra thu hồi thường bị đền bù một cách không công bằng (DFID, 2007).
Đồng thời, nghiên cứu của Kathy Le Mons Walker cho biết, việc thu hồi đất nông nghiệp của hơn 40 triệu nông dân Trung Quốc trong hơn 20 năm qua đã phá vỡ sinh kế và các nền tảng sinh tồn truyền thống. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng đất có một vị trí quan trọng đối với sinh kế nông dân, vì thế không có đất là một vấn đề lớn đối với nhiều hộ gia đình. Xu hướng nhấn mạnh tầm quan trọng của loại vốn tự nhiên này cho thấy khung sinh kế bền vững coi đất là một tài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế nông thôn. Nghiên cứu trong nước Trần Đức Viên và cộng sự (2001) đã thực hiện đánh giá sự phân cấp trong quản lý tài nguyên rừng và sinh kế người dân ở vùng cao qua ba nghiên cứu trường hợp ở phía Bắc và kiến nghị rằng chính sách quản lý tài nguyên rừng của Nhà nước cần phân cấp mạnh mẽ hơn, nâng cao vai trò của cộng đồng và cần tập trung nhiều hơn vào sinh kế của người dân.
Nghiên cứu này cũng cho thấy việc thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp của nhà nước đã tạo ra những tác động quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị đối với một bộ phận nông dân. Ứng phó với tình huống mới, trong điều kiện chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề và tạo việc làm còn có nhiều hạn chế, nhiều hộ gia đình nông dân trong nghiên cứu đã dựa vào tài sản tự nhiên của mình dưới hình thức quyền sử dụng đất thổ cư để không chỉ tránh nghèo mà còn chuyển dịch sang các chiến lược sinh kế mới, mặc dù quá trình chuyển đổi hàm chứa sự phân hóa xã hội và đa dạng chiến lược sinh kế trong các hộ gia đình. Báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á cho rằng, Việt Nam là một ví dụ điển hình về phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo, có nhiều chứng cứ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cho thấy sự gia tăng bất bình đẳng về thu nhập, trong khi đó thì rất ít nghiên cứu xem xét về vấn đề vốn con người.