Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu và cơ sở lý thuyết thích hợp đất đai cho từng đối tượng. Đánh giá đất đai cho nông nghiệp nhờ mưa (Land evaluation for rained agriculture, 1983). Đánh giá đất đai cho nông nghiệp có tưới (Land evaluation for irrigate agriculture, 1985) Đánh giá đất cho đồng cỏ quảng canh (Land evaluation for extensive gazing, 1989).
Đánh giá đất đai cho sự phát triển (Land evaluation for development, 1990). Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ quy hoạch sử dụng đất (Land evaluation and farming system analysis for land use planning, Framework for land evaluation sustainable management, 1993) [1], [2]. Năm 1993, Tổ chức Nông lương Thế giới FAO cho ra đời “Khung đánh giá đất đai phục vụ cho quản lý sử dụng đất bền vững (FAO, 1993b)” quan tâm đến lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường; khung đánh giá càng khẳng định vai trò của “đánh giá đất đai bền vững” (FAO, 2007), có nghĩa là mục tiêu chính của đánh giá đất đai là phục vụ cho quản lý sử dụng đất bền vững (SLM). + Bên cạnh đó, đánh giá đất đai cho quản lý sử dụng đất bền vững, các yếu tố tham gia vào đánh giá phải là yếu tố bền vững (FAO, 1993b; 2007).
Tuy nhiên, phương pháp lựa chọn các yếu tố đưa vào đánh giá đất chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Do đó, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu phương pháp luận lựa chọn các yếu tố trong đánh giá đất đai phục vụ quản lý sử dụng đất bền vững. + Hiện nay, có hai nhóm mô hình lựa chọn yếu tố bền vững: (i). Mô hình FESLM (FAO,1993b) thể hiện các tính chất đất đai bền vững nhưng không thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố; (ii).
Các mô hình PSR(OECD, 1994), DSR(UNCSD, 1997), DPSIR(EEA, 1999): thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố nhưng không thể hiện tính chất đất đai bền vững. Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu tích hợp các mô hình với nhau nhằm phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của các mô hình trong lựa chọn các yếu tố bền vững. Tổng quan các nghiên cứu và cơ sở lý thuyết - Theo FAO, khung đánh giá đất đai phục vụ cho quản lý nông nghiệp bền vững có điểm mạnh của mô hình là đã chỉ ra rằng một hệ thống sử dụng đất (LUS) bền vững thoả mãn đồng thời 5 tính chất: hiệu quả, an toàn, bảo vệ, lâu bền và được xã hội chấp nhận; điều này định hướng cho người ra quyết định xác định các yếu tố trong quản lý sử dụng đất đai bền vững. Điểm yếu của mô hình là không thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố.
- Các mô hình PSR, DSR và DPSIR đều thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố, giúp người ra quyết định nhận biết được vai trò của các yếu tố và ra quyết định tốt hơn, trong đó mô hình DPSIR có ưu điểm nổi bật. - Mô hình DPSIR thể hiện logic chặt chẽ giữa các yếu tố, nhưng tự nó không hướng cho người ra quyết định tìm kiếm các yếu tố thể hiện tính bền vững trong hệ thống sử dụng đất. Trong khi đó FESLM đã chỉ ra rằng một hệ thống sử dụng đất bền vững thoả mãn đồng thời 5 tính chất nên hỗ trợ cho người ra quyết định lựa chọn các yếu tố phù hợp với lĩnh vực quản lý đất đai bền vững. Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu tích hợp mô hình FESLM và DPSIR để xác định các yếu tố trong quản lý đất bền vững.
Thông thường, quá trình đánh giá đất đai được sử dụng một trong hai phương pháp sau: Phương pháp 2 bước: Phương pháp này được tiến triển theo các trình tự rõ rệt gồm có 2 bước: Bước 1 thực hiện đánh giá đất tự nhiên (đánh giá đất về mặt định tính hoặc bán định lượng) và bước thứ 2 là phân tích kinh tế - xã hội. Phương pháp song song: Các bước tiến triển phát triển song song, kết hợp đánh giá đất tự nhiên đồng thời với việc phân tích tác động của môi trường. Hiện nay, tùy thuộc vào mục đích và điều kiện cụ thể ở mỗi quốc gia mà có phương pháp đánh giá đất đai khác nhau. Có 3 phương thức đánh giá cơ bản: (i) Đánh giá dựa vào sự mô tả và xét đoán trực tiếp (mang tính định tính); (ii) Đánh giá theo cách cho điểm các chỉ tiêu từ 0 đến 100 điểm; (iii) Đánh giá dựa trên cơ sở tính thích hợp của các loại sử dụng đất đối với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội (mang tính định lượng).
Ở nhiều nước trên thế giới, việc ứng dụng kỹ thuật GIS kết hợp với công cụ hỗ 6 Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu và cơ sở lý thuyết trợ ra quyết định đa tiêu chuẩn ngày càng phổ biến và đem lại ích lợi để giải quyết bài toán phân tích không gian. Việc lựa chọn địa điểm tối ưu là một trong những bài toán quan trọng thường gặp trong lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường. Đây là các bài toán yêu cầu phân tích không gian phức tạp, yêu cầu phải đánh giá rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau.
Trong nước [3] – [7] Ở Việt Nam công tác đánh giá, phân hạng đất đã được nhiều cơ quan khoa học nghiên cứu và thực hiện. Năm 1954, ở miền Bắc, Vụ Quản lý ruộng đất và Viện Nông hóa Thổ nhưỡng rồi sau đó là Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã có những công trình nghiên cứu và quy trình phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tăng cường công tác quản lý độ màu mỡ đất và xếp hạng thuế nông nghiệp. Dựa vào các chỉ tiêu chính về điều kiện sinh thái và tính chất đất của từng vùng sản xuất nông nghiệp, đất đã được phân thành 5 -7 hạng theo phương pháp xếp điểm. Nhiều tỉnh đã xây dựng được các bản đồ phân hạng đất đai đến cấp xã, góp phần đáng kể cho công tác quản lý đất đai trong giai đoạn kế hoạch hóa sản xuất.
Phương pháp đánh giá đất đai theo FAO đã được nhiều nhà khoa học đất Việt Nam bước đầu vận dụng thử nghiệm và đã có những kết quả đóng góp để hoàn thiện từng bước những công trình nghiên cứu như của Bùi Quang Toản (1985); Vũ Cao Thái (1989); Trần An Phong (1995); Nguyễn Khoan và Phạm Ưng (1995). Từ đầu những năm 1970, Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, Đinh Văn Tỉnh.) đã tiến hành công tác đánh giá phân hạng đất đai ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh. Kết quả bước đầu đã phục vụ cho công tác tổ chức lại sản xuất và làm cơ sở để đề ra quy trình kỹ thuật phân hạng đất đai cho các hợp tác xã và các vùng chuyên canh. Các yếu tố được sử dụng trong đánh giá, phân hạng đất đai vùng đồng bằng bao gồm: loại đất, độ dày tầng đất, độ chặt, xốp, hạn, úng, mưa, mặn, chua,.Các yếu tố đó được chia thành 4 mức độ thích hợp là rất tốt, tốt, trung bình và kém.
Các nhà nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu tiêu chí về thổ nhưỡng, khí hậu để phân hạng cho từng loại cây trồng khác nhau. Các yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội, thủy văn, … vẫn chưa đề cập đến. Chẳng 7 Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu và cơ sở lý thuyết hạn, theo nghiên cứu của Vũ Cao Thái và cộng sự (1989), đã nghiên cứu mức độ thích hợp của đất Tây Nguyên với cao su, cà phê, chè, dâu tằm trên cơ sở vận dụng phân hạng đất thích hợp của FAO để đánh giá định tính và đánh giá tiềm năng của đất và đưa ra một số kết quả phân hạng đất cho từng loại cây trồng.
Nghiên cứu của Tôn Thất Chiểu (1994) đã tiến hành nghiên cứu phân hạng trên toàn quốc, thực hiện ở tỉ lệ bản đồ 1:500.000, chủ yếu dựa vào nguyên tắc phân loại khả năng phân của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Các yếu tố dựa vào chủ yếu địa hình và thổ nhưỡng phân cấp 7 nhóm đất phân lập cho mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp và mục đích khác. Năm 1995, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã xây dựng và hoàn thành bản đồ đơn vị đất đai các loại hình sử dụng đất chính ở Việt Nam theo FAO làm cơ sở cho chiến lược khai thác và sử dụng tiềm năng đất với tỉ lệ 1:250. Nhiều nghiên cứu đánh giá đất của nhiều nhà khoa học đất như phía Bắc có Nguyễn Công Pho (1995), Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà (1992, 1993), Phạm Văn Lăng (1992).
Phía Nam có Trần An Phong, Nguyễn Văn Nhân, Tôn Thất Chiểu, Phạm Quang Khánh (1991, 1995); Lê Duy Thước (1992), Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Bạt (1995), Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyển (1995). Các nghiên cứu này tập trung vào tỉ lệ bản đồ trung bình tỉ lệ từ 1:500. Phạm Quang Khánh và Vũ Cao Thái (1994) đã đánh giá đất và các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp vùng Đông Nam Bộ dựa vào tỉ lệ 1:250.000 đã xác định 54 đơn vị đất đai, 7 loại hình sử dụng đất chính với 49 loại hình sử dụng đất và 50 hệ thống sử dụng đất. Nguyễn Công Pho (1995) đã tiến hành đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền theo phương pháp FAO.
Phạm Quang Khánh (2000) đã nghiên cứu, điều tra, đánh giá và quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Cà Mau tỉ lệ 1:100. Kết quả đã xác định 35 đơn vị đất đai với 11 loại hình sử dụng đất phổ biến được lựa chọn cho việc đánh giá khả năng thích hợp đất đai phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Tổng quan các nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Nghiên cứu ở cấp độ tỉnh, huyện, xã là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra nhằm cụ thể hóa kết quả những công tác đánh giá làm cơ sở cho việc định hướng sử dụng đất hiện tại cũng như trong tương lai. Chẳng hạn như nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai của Vũ Thị Bình (1995), Nguyễn Đình Bồng (1995), Nguyễn Văn Tân, Nguyễn Khang (1994), Đỗ Nguyên Hải (2000), Nguyễn Quang Học (2000), Đoàn Công Quỳ (2001), Hoàng Văn Mùa và Nguyễn Hữu Thành (2006), Nguyễn Đình Bộ (2010), … Kết quả công trình nghiên cứu ở tỉ lệ 1:50.