Tổng quan nghiên cứu

Dự án Khu công nghiệp Hiệp Phước tại huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh được quy hoạch với quy mô 1.686 ha, chia thành 3 giai đoạn kết hợp khu đô thị cảng 1.354 ha. Quá trình thu hồi đất phục vụ công nghiệp hóa đã tác động trực tiếp đến 1.161 hộ nông dân địa phương, trong đó 217 hộ được bố trí vào các khu tái định cư tập trung như Khu dân cư Long Thới và Khu dân cư Hiệp Phước. Sự chuyển đổi nhanh chóng từ phương thức canh tác truyền thống sang môi trường đô thị công nghiệp đã đặt các hộ gia đình, đặc biệt là nhóm lao động chính từ 35 tuổi trở lên, trước một cú sốc kinh tế và xã hội sâu sắc khi toàn bộ tư liệu sản xuất nông nghiệp không còn.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá sự biến đổi 5 nguồn vốn sinh kế, xác định các tổn thương thực tế và phân tích mức độ thích ứng của các hộ gia đình có lao động trụ cột từ 35 tuổi trở lên sau khi bị thu hồi đất. Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu thực địa trong 4 tháng, từ tháng 5/2017 đến tháng 9/2017 tại địa bàn 2 xã Long Thới và Hiệp Phước thuộc huyện Nhà Bè.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc lượng hóa bức tranh an sinh xã hội vùng ven đô thị. Số liệu thực tế ghi nhận mức thu nhập bình quân đầu người của các hộ sau thu hồi đất dao động lớn từ 1,1 triệu đến 11,4 triệu đồng/người/tháng. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm, đào tạo nghề và an sinh xã hội bền vững cho hơn 1.000 hộ dân bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng Khung phân tích sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh kết hợp với lý thuyết sinh kế của Robert Chambers và Gordon Conway năm 1992, cùng nghiên cứu mở rộng của Ian Scoones năm 1998. Hệ thống lý thuyết này tiếp cận sinh kế dựa trên năng lực, các hoạt động kiếm sống và 5 nguồn vốn nền tảng:

  • Vốn con người: Trình độ học vấn, kỹ năng nghề, sức khỏe và cơ cấu lao động trong hộ gia đình.
  • Vốn tự nhiên: Diện tích đất nông nghiệp, tài nguyên mặt nước, hệ thống kênh rạch phục vụ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
  • Vốn tài chính: Các dòng thu nhập định kỳ, nguồn tiền bồi thường đất, tiền tiết kiệm và khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng.
  • Vốn vật chất: Nhà ở, cơ sở hạ tầng giao thông, mạng lưới cấp điện, nước sạch và trang thiết bị sinh hoạt.
  • Vốn xã hội: Mối quan hệ họ hàng, mạng lưới cộng đồng làng xóm và sự hỗ trợ từ các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại địa phương.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các khái niệm nền tảng về bối cảnh dễ bị tổn thương, chiến lược sinh kế và quy định pháp lý về bồi thường, thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 nhằm phân tích sự tương tác giữa chính sách nhà nước với sự dịch chuyển nguồn lực của hộ gia đình.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với cỡ mẫu khảo sát chính thức gồm 152 hộ gia đình hợp lệ, được gạn lọc từ 230 phiếu phát ra tại thực địa trong giai đoạn từ tháng 5/2017 đến tháng 9/2017. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng theo 3 nhóm cư trú cụ thể:

  • Nhóm 1: 76 hộ sinh sống tại Khu tái định cư Hiệp Phước, chiếm tỷ lệ 50,0% tổng mẫu.
  • Nhóm 2: 56 hộ sinh sống tại Khu tái định cư Long Thới, chiếm tỷ lệ 36,8% tổng mẫu.
  • Nhóm 3: 20 hộ tự tìm nơi ở mới bên ngoài các khu tái định cư tập trung, chiếm tỷ lệ 13,2% tổng mẫu.

Lý do lựa chọn phương pháp định lượng và kỹ thuật thống kê mô tả là nhằm tái hiện chính xác hiện trạng biến đổi tài sản sinh kế trước và sau mốc thời gian thu hồi đất. Tác giả sử dụng kiểm định Chi bình phương để xác định mối quan hệ giữa biến định tính về đào tạo nghề với cơ hội tiếp cận việc làm. Đồng thời, kỹ thuật phân tích phương sai một yếu tố được thực hiện để so sánh mức thu nhập bình quân giữa các nhóm nghề nghiệp khác nhau với mức ý nghĩa thống kê đạt 2,8%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nghề nghiệp có sự chuyển dịch cưỡng bức từ nông nghiệp tự nhiên sang các công việc bấp bênh. Trước khi thu hồi đất, 100% hộ dân phụ thuộc vào nguồn vốn tự nhiên với 27,6% làm trồng trọt, 25,7% chăn nuôi và 46,7% nuôi trồng hoặc đánh bắt thủy sản trên sông rạch. Sau khi thu hồi đất, tỷ lệ hộ làm mướn tăng vọt lên 27,6%, làm nghề tự do chiếm 26,3%, buôn bán nhỏ chiếm 22,4% và chỉ còn 23,7% duy trì canh tác nông nghiệp quy mô nhỏ.

Thứ hai, thu nhập có sự phân hóa sâu sắc giữa các nhóm ngành nghề. Mức thu nhập bình quân của toàn bộ mẫu khảo sát đạt 11,5 triệu đồng/hộ/tháng và 2,97 triệu đồng/người/tháng. Tuy nhiên, lao động chuyển sang buôn bán nhỏ đạt thu nhập cao nhất với 3,5 triệu đồng/người/tháng, nhóm làm tự do đạt 3,0 triệu đồng/người/tháng, nhóm làm nông đạt 2,86 triệu đồng/người/tháng, trong khi nhóm làm thuê làm mướn chỉ đạt 2,2 triệu đồng/người/tháng.

Thứ ba, hiệu quả đào tạo nghề và giới thiệu việc làm còn nhiều bất cập. Tỷ lệ lao động từ 35 tuổi trở lên được đào tạo nghề chỉ đạt 43,4% (66 hộ), trong đó có tới 47,0% người học khẳng định kiến thức đào tạo không phù hợp với thực tế mưu sinh. Đáng chú ý, tỷ lệ được giới thiệu việc làm ở nhóm đã qua đào tạo chỉ đạt 42,4%, thấp hơn mức 53,5% của nhóm chưa từng qua đào tạo.

Thứ tư, nguồn vốn con người hạn chế là rào cản lớn nhất. Trình độ học vấn của các chủ hộ khảo sát rất thấp với 96,1% chưa tốt nghiệp trung học phổ thông, chỉ có 2,6% đạt trình độ cấp 3 và 1,3% đạt trình độ sau phổ thông. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế của các hộ chỉ đạt 67,8%, để lại 32,2% hộ chưa có lưới an sinh y tế bảo vệ khi ốm đau.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng sinh kế bấp bênh là do lao động từ 35 tuổi trở lên khó đáp ứng tiêu chí tuyển dụng của các doanh nghiệp thứ cấp trong Khu công nghiệp Hiệp Phước vì giới hạn độ tuổi và thiếu trình độ kỹ thuật. Chương trình đào tạo nghề của địa phương còn mang nặng tính phong trào, tập trung vào số lượng thay vì bám sát nhu cầu thực tế của thị trường lao động công nghiệp.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm của các học giả chuyên ngành tại Nghệ An và Hưng Yên, khi chỉ ra rằng việc chuyển đổi nguồn vốn tự nhiên thành tiền mặt đền bù không thể tự động tạo ra sinh kế bền vững nếu thiếu chiến lược nâng cao vốn con người. Khoảng 55% hộ dân tại các vùng công nghiệp hóa thường phân bổ tiền bồi thường vào chi tiêu sinh hoạt ngắn hạn thay vì đầu tư tư liệu sản xuất mới.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua biểu đồ thanh thể hiện cơ cấu chuyển đổi 4 nhóm nghề nghiệp và bảng phân tích phương sai thu nhập, minh chứng rõ nét rằng việc mất đất làm suy sụp hoàn toàn nguồn vốn tự nhiên, buộc người lao động lớn tuổi phải đánh đổi bằng việc gia tăng bán sức lao động phổ thông.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc chương trình đào tạo nghề thích ứng theo nhóm tuổi. Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè phối hợp cùng các trường nghề trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thiết kế các khóa đào tạo ngắn hạn từ 1 đến 3 tháng tập trung vào các kỹ năng thực tế như lái xe, may công nghiệp, sửa chữa điện nước, bảo vệ chuyên nghiệp và chế biến thực phẩm. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ lao động từ 35 tuổi được đào tạo phù hợp lên trên 75% trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm tuyển dụng của doanh nghiệp. Ban Quản lý Khu công nghiệp Hiệp Phước cần đưa điều khoản ưu tiên tiếp nhận tối thiểu 30% lao động địa phương bị thu hồi đất vào các vị trí vận hành đơn giản, tạp vụ, bảo vệ và hậu cần kho bãi trong vòng 12 đến 24 tháng tới nhằm tạo việc làm ổn định cho cư dân hai xã Long Thới và Hiệp Phước.

Thứ ba, mở rộng quỹ tín dụng ưu đãi hỗ trợ khởi sự kinh doanh nhỏ. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Nhà Bè chủ trì giải ngân các gói vay vi mô với hạn mức từ 30 đến 50 triệu đồng/hộ, thời hạn vay 36 tháng cùng lãi suất ưu đãi. Mục tiêu giải quyết vốn kịp thời cho 100% hộ dân có nhu cầu chuyển đổi sang buôn bán nhỏ và cung ứng dịch vụ thương mại trong năm 2019.

Thứ tư, hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe. Ủy ban nhân dân hai xã Long Thới và Hiệp Phước cần trích ngân sách an sinh hỗ trợ 100% chi phí mua bảo hiểm y tế cho các hộ nghèo và cận nghèo, phấn đấu nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn địa bàn từ 67,8% lên trên 95% trước năm 2020, đồng thời giữ khoảng cách tiếp cận dịch vụ y tế công lập dưới 2 km cho toàn bộ 217 hộ tái định cư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Giúp Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè có căn cứ thực tiễn để ban hành các đề án an sinh, quy hoạch khu tái định cư và định hình chính sách đào tạo nghề giai đoạn hậu thu hồi đất.
  • Ban quản lý khu công nghiệp và chủ đầu tư hạ tầng: Cung cấp cho Ban Quản lý Khu công nghiệp Hiệp Phước và Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phát triển Công nghiệp Tân Thuận dữ liệu cụ thể về đặc điểm nhân khẩu học, giúp xây dựng các chương trình trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và kết nối việc làm nội bộ hiệu quả.
  • Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu học thuật: Là tài liệu tham khảo giá trị cho các chuyên ngành Quản lý công, Xã hội học, Kinh tế phát triển trong việc ứng dụng Khung phân tích sinh kế bền vững kết hợp các mô hình thống kê định lượng trên mẫu thực tế 152 hộ dân.
  • Tổ chức phi chính phủ và các quỹ phát triển cộng đồng: Hỗ trợ các tổ chức xã hội thiết kế những dự án can thiệp phát triển sinh kế vi mô, trợ cấp kỹ thuật và tài chính có mục tiêu cho các nhóm yếu thế tại các vùng nông thôn đang đô thị hóa nhanh.

Câu hỏi thường gặp

Lao động trên 35 tuổi gặp khó khăn lớn nhất nào khi bị thu hồi đất tại Khu công nghiệp Hiệp Phước? Khó khăn lớn nhất là rào cản chuyển đổi nghề nghiệp do trình độ học vấn thấp với 96,1% dưới trung học phổ thông và các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thường áp đặt trần tuyển dụng dưới 35 tuổi đối với công nhân sản xuất trực tiếp.

Thu nhập của người dân thay đổi như thế nào sau khi chuyển đến nơi ở mới? Thu nhập bình quân đạt 2,97 triệu đồng/người/tháng nhưng có sự chênh lệch lớn giữa các ngành nghề. Hộ làm buôn bán nhỏ đạt 3,5 triệu đồng/người/tháng, trong khi hộ làm thuê mướn lao động giản đơn chỉ đạt 2,2 triệu đồng/người/tháng.

Tại sao tỷ lệ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm ở nhóm lao động qua đào tạo nghề vẫn ở mức cao? Chương trình đào tạo nghề của địa phương chưa gắn liền với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp KCN Hiệp Phước, khiến 47,0% người được đào tạo không thể áp dụng kiến thức vào thực tế và chỉ có 42,4% được giới thiệu việc làm thành công.

Nguồn vốn tự nhiên của các hộ gia đình bị suy giảm ra sao sau dự án? Toàn bộ diện tích đất canh tác nông nghiệp và quyền tiếp cận hệ thống kênh rạch tự nhiên để đánh bắt thủy sản bị triệt tiêu, khiến tỷ lệ hộ duy trì sinh kế tự nhiên giảm mạnh, buộc 53,9% lao động phải chuyển sang làm mướn hoặc làm tự do.

Chính sách tín dụng có vai trò gì trong việc phục hồi sinh kế của các hộ tái định cư? Vốn tín dụng vi mô với mức vay 30 đến 50 triệu đồng đóng vai trò đòn bẩy giúp các hộ gia đình mua sắm phương tiện buôn bán nhỏ, mở cửa hàng dịch vụ tại khu dân cư mới, thay thế nguồn thu nhập nông nghiệp đã mất.

Kết luận

  • Dự án Khu công nghiệp Hiệp Phước với diện tích 1.686 ha đã làm thay đổi căn bản điều kiện sống của 1.161 hộ nông dân, khiến nguồn vốn tự nhiên bị sụt giảm hoàn toàn.
  • Lao động từ 35 tuổi trở lên chịu tổn thương lớn nhất do 96,1% có trình độ dưới trung học phổ thông, dẫn tới 53,9% phải mưu sinh bằng nghề làm mướn và lao động tự do thu nhập thấp.
  • Thu nhập bình quân đầu người đạt 2,97 triệu đồng/tháng nhưng có sự phân hóa rõ rệt giữa buôn bán nhỏ (3,5 triệu đồng) và làm thuê mướn (2,2 triệu đồng) với mức ý nghĩa thống kê đạt 2,8%.
  • Công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn khi có tới 47,0% người học đánh giá nội dung đào tạo không phù hợp với thị trường.
  • Hệ thống chính sách cần triển khai đồng bộ 4 mũi nhọn: chuẩn hóa đào tạo nghề theo địa chỉ, ràng buộc tỷ lệ tuyển dụng của doanh nghiệp đạt 30%, cấp vốn tín dụng vi mô 30 - 50 triệu đồng và bao phủ 95% bảo hiểm y tế trước năm 2020.

Đóng góp chính của luận văn là đã hệ thống hóa và lượng hóa toàn diện tác động của quá trình thu hồi đất công nghiệp lên 5 nguồn vốn sinh kế của nhóm lao động lớn tuổi tại huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác chi tiết các mô hình kiểm định và hệ thống giải pháp trong toàn văn công trình nghiên cứu.