Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Trà Khúc – sông Vệ thuộc tỉnh Quảng Ngãi là một trong những khu vực trọng điểm kinh tế miền Trung nhưng cũng là nơi chịu tác động gay gắt nhất của biến đổi khí hậu. Với tổng diện tích lưu vực tự nhiên hơn 4.500 km2 (trong đó sông Trà Khúc chiếm 3.240 km2 và sông Vệ chiếm 1.260 km2), tài nguyên nước mặt tại đây giữ vai trò sống còn đối với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh của hơn 1,2 triệu người dân. Tuy nhiên, tính chất bất thường của thời tiết cực đoan những năm gần đây đã gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng. Điển hình như trận lũ lịch sử tháng 11/2013, mực nước sông Trà Khúc vượt báo động 3 tới 2,26 m, khiến 25 người thiệt mạng và gây thiệt hại kinh tế hơn 1.829 tỷ đồng, chiếm khoảng 6,5% GDP toàn tỉnh.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề phân bố dòng chảy không đều giữa các mùa và sự gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan. Mục tiêu cụ thể của đề tài là đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên nước mặt, phân tích quy luật biến động khí hậu trong giai đoạn 1977 – 2013 và dự báo lượng dòng chảy tương lai theo các kịch bản biến đổi khí hậu B2 (phát thải trung bình) và A2 (phát thải cao) đến các mốc thời gian 2020, 2050 và 2100. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác, giúp địa phương tối ưu hóa quy trình điều tiết các hồ chứa lớn như hồ Nước Trong và Thạch Nham, hạn chế nguy cơ xâm nhập mặn trên 30 km bờ biển và xây dựng chiến lược ứng phó thiên tai bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết biến đổi khí hậu toàn cầu theo các báo cáo đánh giá của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và lý thuyết cân bằng nước lưu vực sông. Về mặt công cụ tính toán, đề tài ứng dụng mô hình thủy văn thông số phân bố BTOPMC (Block-wise TOPMODEL with Muskingum-Cunge routing method) do Đại học Yamanashi (Nhật Bản) phát triển. Khung lý thuyết của BTOPMC tích hợp chặt chẽ cấu trúc thấm và lan truyền dòng chảy ngầm của mô hình TOPMODEL với thuật toán diễn toán thủy lực dòng chảy tràn và dòng chảy lòng dẫn Muskingum-Cunge.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được vận hành xuyên suốt bao gồm: mô đun dòng chảy mặt ($l/s.km^2$), tổng lượng dòng chảy năm ($m^3$ hoặc $km^3$), hệ số biến động dòng chảy ($C_v$), kịch bản phát thải khí nhà kính (SRES B2 và A2) và chỉ số hiệu quả Nash-Sutcliffe (NSE) dùng để định lượng mức độ tương thích giữa số liệu mô phỏng và thực đo.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập đồng bộ từ chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn kéo dài 37 năm liên tục (1977 – 2013) tại 10 trạm khí tượng thủy văn phân bố trên toàn lưu vực. Hệ thống quan trắc gồm 2 trạm khí tượng toàn diện (Ba Tơ đại diện cho vùng núi cao, Quảng Ngãi đại diện cho vùng đồng bằng), 4 trạm thủy văn đo đạc lưu lượng và mực nước (Sơn Giang, An Chỉ, Trà Khúc, Sông Vệ) cùng các trạm đo mưa chuyên biệt như Giá Vực, Minh Long, Mộ Đức, Sơn Hà. Cỡ mẫu dữ liệu bao gồm toàn bộ chuỗi số liệu đo ngày trong 37 năm, được lựa chọn theo phương pháp quan trắc chuỗi thời gian liên tục nhằm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy thống kê cao nhất.

Phương pháp mô hình phân bố BTOPMC kết hợp công nghệ Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) và mô hình số độ cao (DEM) được lựa chọn vì khả năng phân chia lưu vực thành các ô lưới không gian chi tiết, phản ánh chính xác đặc điểm địa hình dốc đứng từ 500 – 1.000 m ở phía Tây xuống 5 – 20 m ở đồng bằng ven biển. Quá trình hiệu chỉnh mô hình được tiến hành với số liệu thực đo giai đoạn 1993 – 1994 và kiểm định độc lập trong giai đoạn 1998 – 1999 tại trạm Sơn Giang. Kết quả kiểm định đạt chỉ số Nash-Sutcliffe cao, khẳng định mô hình hoàn toàn phù hợp để mô phỏng và dự báo dòng chảy cho các giai đoạn tương lai 2020, 2050 và 2100.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm và mô phỏng số đã chỉ ra các phát hiện trọng tâm sau:

Thứ nhất, nhiệt độ không khí và lượng mưa có xu thế gia tăng rõ rệt, thúc đẩy tính cực đoan của thời tiết. Tại trạm Quảng Ngãi, nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng dần, nhiệt độ cực đại từng ghi nhận đạt mức 40,5 độ C (tháng 6/1983). Lượng mưa trung bình năm toàn lưu vực dao động từ 2.500 mm ở đồng bằng đến trên 3.600 mm ở vùng núi, trong đó tâm mưa Ba Tơ đạt trung bình 3.821 mm/năm. Lượng mưa mùa lũ (tháng IX – XII) chỉ diễn ra trong 3 – 4 tháng nhưng chiếm tới 70% – 80% tổng lượng mưa cả năm.

Thứ hai, tài nguyên nước mặt phân bố không đều theo không gian và thời gian. Tổng lượng dòng chảy năm trung bình của sông Trà Khúc tại Sơn Giang đạt 6,4 tỷ m3 (mô đun dòng chảy 83,1 $l/s.km^2$), trong khi sông Vệ tại An Chỉ đạt 1,93 tỷ m3 (mô đun dòng chảy 75,18 $l/s.km^2$). Mùa lũ tập trung từ 66,1% đến 72,7% tổng lượng dòng chảy cả năm, riêng tháng XI chiếm tới 29,7% – 32,8%. Trái lại, mùa kiệt kéo dài suốt 9 tháng (tháng I – IX) chỉ chiếm 27,3% – 33,9% tổng lượng nước. Tháng kiệt nhất (tháng IV trên sông Trà Khúc với 54,8 m3/s; tháng VII trên sông Vệ với 11,6 m3/s) chỉ chiếm xấp xỉ 1,59% – 2,25% lượng nước toàn năm.

Thứ ba, kết quả dự báo theo các kịch bản B2 và A2 cho thấy sự mất cân đối nguồn nước ngày càng trầm trọng. Vào các năm 2050 và 2100, tổng lượng dòng chảy mùa kiệt tại trạm Sơn Giang dự báo sẽ sụt giảm từ 5% đến 12%, trong khi dòng chảy mùa lũ tăng thêm từ 8% đến 15%, làm tăng nguy cơ ngập lụt diện rộng vào cuối năm và hạn hán khốc liệt vào đầu mùa khô.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa sâu sắc của tài nguyên nước bắt nguồn từ hình thái địa hình đặc thù của tỉnh Quảng Ngãi. Sông ngòi bắt nguồn từ vùng núi cao phía Tây dãy Trường Sơn với độ dốc lưu vực lớn (độ dốc bình quân sông Trà Khúc là 18,5%), chuyển tiếp đột ngột sang dải đồng bằng hẹp ven biển mà không có vùng đệm bán sơn địa. Khi gió mùa Đông Bắc kết hợp hoàn lưu bão và dải hội tụ nhiệt đới di chuyển vào đất liền, sườn đón gió gây ra các đợt mưa cường suất rất lớn, biến lưu vực thành phễu tập trung nước nhanh chóng, đẩy đỉnh lũ lên mức lịch sử như trận lũ năm 2013 với lưu lượng đỉnh tại Sơn Giang đạt 16.000 m3/s. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 49,8% (năm 2014) nhưng phần lớn là rừng trồng và rừng nghèo, khiến khả năng giữ nước và điều tiết dòng chảy mùa kiệt bị suy giảm đáng kể.

So sánh với các nghiên cứu thủy văn tại lưu vực sông Hương (Thừa Thiên Huế) hay sông Srêpôk (Tây Nguyên), xu thế gia tăng biên độ chênh lệch giữa dòng chảy lũ và dòng chảy kiệt dưới tác động của biến đổi khí hậu tại lưu vực Trà Khúc – sông Vệ diễn ra khốc liệt hơn do chiều dài sông ngắn và độ dốc lớn. Toàn bộ các phát hiện này được trực quan hóa qua hệ thống biểu đồ đường xu thế biến đổi nhiệt độ – mưa 37 năm, biểu đồ phân bố lưu lượng dòng chảy 12 tháng tại các trạm khống chế và bảng ma trận dự báo tổng lượng dòng chảy ($km^3$) tương ứng với từng mốc thời gian 2020, 2050, 2100 theo hai kịch bản phát thải.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng và mô hình dự báo biến động tài nguyên nước, các giải pháp mang tính hành động cao được đề xuất như sau:

  • Hoàn thiện và ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực đối với các công trình thủy lợi – thủy điện trên lưu vực (hồ Nước Trong, công trình đầu mối Thạch Nham). Mục tiêu cắt giảm từ 15% đến 20% lưu lượng đỉnh lũ trong mùa mưa bão và đảm bảo lưu lượng xả duy trì dòng chảy môi trường tối thiểu đạt trên 35 m3/s trong các tháng kiệt nhất. Lộ trình thực hiện: giai đoạn 2026 – 2028. Chủ thể chịu trách nhiệm: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
  • Quy hoạch và phục hồi diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn trên các huyện miền núi Ba Tơ, Trà Bồng, Sơn Tây và Tây Trà. Nâng tỷ lệ che phủ rừng tự nhiên chất lượng cao từ 49,8% lên trên 55%, tập trung trồng mới và khoanh nuôi tái sinh 15.000 ha rừng đầu nguồn nhằm tăng khả năng thấm giữ nước ngầm và hạn chế xói mòn đất. Lộ trình thực hiện: giai đoạn 2026 – 2030. Chủ thể chịu trách nhiệm: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi.
  • Hiện đại hóa hệ thống mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thủy văn tự động và công nghệ cảnh báo sớm. Lắp đặt bổ sung ít nhất 15 trạm đo mưa tự động tại các tiểu lưu vực vùng sâu và 4 trạm đo mực nước tự động truyền dữ liệu vệ tinh, nâng cao độ chính xác dự báo lũ trước 6 đến 12 giờ đạt tỷ lệ trên 90%. Lộ trình thực hiện: giai đoạn 2026 – 2027. Chủ thể chịu trách nhiệm: Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Trung Trung Bộ và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi.
  • Xây dựng và củng cố hệ thống công trình kiểm soát xâm nhập mặn và đê kè chống xói lở bờ sông, bờ biển. Hoàn thiện 30 km kè xung yếu tại khu vực Cửa Đại, Cửa Lở và các xã ven biển thuộc huyện Bình Sơn, Mộ Đức, Đức Phổ nhằm ngăn mặn xâm nhập sâu quá 5 km vào nội đồng trong các tháng mùa kiệt (tháng IV – VII). Lộ trình thực hiện: giai đoạn 2027 – 2030. Chủ thể chịu trách nhiệm: Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng các Công trình Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ngãi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu, mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp tỉnh (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Ngãi): Khai thác cơ sở dữ liệu chuỗi số liệu thực đo 37 năm (1977 – 2013) cùng các kết quả dự báo kịch bản B2, A2 để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu và quy hoạch tổng thể phân bổ nguồn nước mặt 8,33 tỷ m3/năm của tỉnh.
  • Kỹ sư thủy lợi, ban quản lý hồ chứa và vận hành thủy điện: Sử dụng bộ thông số mô hình BTOPMC và số liệu dòng chảy kiệt cực tiểu (54,8 m3/s tại trạm Sơn Giang) để tính toán dung tích phòng lũ, lập lịch điều tiết xả nước hợp lý, giải quyết hài hòa xung đột dùng nước giữa thủy điện và tưới tiêu nông nghiệp.
  • Chuyên gia quy hoạch đô thị và phòng chống thiên tai: Ứng dụng bản đồ ngập lụt, dữ liệu đỉnh lũ cực đại 16.000 m3/s và phân tích rủi ro xói lở bờ sông để thiết kế hạ tầng giao thông, khu dân cư an toàn dọc hạ lưu hai bên bờ sông Trà Khúc và sông Vệ.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Khí tượng – Thủy văn: Tham khảo quy trình tích hợp mô hình phân bố BTOPMC với công nghệ GIS và DEM trong việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tại các lưu vực sông có địa hình dốc đứng miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

  • Tổng lượng tài nguyên nước mặt hàng năm trên lưu vực sông Trà Khúc – sông Vệ là bao nhiêu? Theo kết quả tính toán thủy văn giai đoạn 1977 – 2013, tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm của sông Trà Khúc tại trạm Sơn Giang đạt 6,4 tỷ m3 và sông Vệ tại trạm An Chỉ đạt 1,93 tỷ m3. Tổng lượng nước mặt toàn lưu vực cung cấp hàng năm đạt trên 8,33 tỷ m3, tạo nguồn tài nguyên nước phong phú nhưng phân bố rất bất đối xứng giữa hai mùa.

  • Biến đổi khí hậu ảnh hưởng như thế nào đến chế độ mưa tại Quảng Ngãi? Dữ liệu quan trắc cho thấy lượng mưa trung bình năm toàn lưu vực đạt mức cao từ 2.500 mm đến 3.600 mm (tâm mưa Ba Tơ lên tới 3.821 mm). Dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất mưa cực đoan gia tăng, lượng mưa tập trung cao độ vào 3 – 4 tháng cuối năm (chiếm 70% – 80% tổng lượng năm), gây lũ quét dồn dập ở vùng núi và ngập sâu ở đồng bằng.

  • Vì sao mô hình BTOPMC được lựa chọn để mô phỏng dòng chảy lưu vực này? BTOPMC là mô hình thông số phân bố kết hợp hiệu quả giữa TOPMODEL và phương pháp diễn toán Muskingum-Cunge. Nhờ khai thác dữ liệu số độ cao DEM và GIS, mô hình mô phỏng xuất sắc quá trình dòng chảy tràn và dòng chảy ngầm trên địa hình chia cắt phức tạp của lưu vực rộng hơn 4.500 km2, đạt chỉ số kiểm định Nash cao và độ tin cậy vượt trội.

  • Giai đoạn kiệt nhất trong năm diễn ra vào thời điểm nào và mức độ suy giảm ra sao? Mùa kiệt kéo dài 9 tháng (tháng I đến tháng IX) nhưng chỉ chiếm 27,3% – 33,9% tổng lượng dòng chảy năm. Thời kỳ cạn kiệt nhất xuất hiện vào tháng IV đối với sông Trà Khúc (lưu lượng chỉ đạt 54,8 m3/s) và tháng VII đối với sông Vệ (chỉ đạt 11,6 m3/s), mỗi tháng kiệt nhất chỉ chiếm chưa đầy 2,3% tổng lượng dòng chảy cả năm.

  • Các kịch bản biến đổi khí hậu dự báo bức tranh dòng chảy tương lai như thế nào? Theo kịch bản phát thải trung bình B2 và phát thải cao A2, đến năm 2050 và 2100, dòng chảy mùa khô dự báo sẽ suy giảm từ 5% đến 12%, trong khi dòng chảy mùa lũ tăng mạnh từ 8% đến 15%. Điều này làm trầm trọng hơn tình trạng thiếu nước sản xuất đầu vụ hè thu và gia tăng hiểm họa ngập lụt, xói lở trên 30 km bờ biển.

Kết luận

  • Tổng lượng dòng chảy mặt trên lưu vực sông Trà Khúc – sông Vệ đạt trên 8,33 tỷ m3/năm nhưng phân bố cực kỳ mất cân đối giữa mùa lũ (66,1% – 72,7%) và mùa kiệt (27,3% – 33,9%).
  • Biến đổi khí hậu làm gia tăng các trị số cực đoan với nhiệt độ cao nhất đạt 40,5 độ C và đỉnh lũ lịch sử tại trạm Sơn Giang lên tới 16.000 m3/s.
  • Ứng dụng thành công mô hình phân bố BTOPMC kết hợp GIS để mô phỏng chính xác chế độ thủy văn trên lưu vực có địa hình chia cắt phức tạp hơn 4.500 km2.
  • Dự báo theo kịch bản B2 và A2 khẳng định nguy cơ dòng chảy kiệt giảm sâu tới 12% và dòng chảy lũ tăng đến 15% vào cuối thế kỷ XXI.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình nhằm bảo vệ 49,8% diện tích rừng, tối ưu hóa quy trình hồ chứa và kiểm soát sạt lở, xâm nhập mặn.

Luận văn đã đóng góp một hệ thống cơ sở khoa học và dữ liệu mô hình hóa thủy văn chuẩn xác, phục vụ đắc lực cho công tác quản trị tài nguyên nước và thích ứng biến đổi khí hậu tại Quảng Ngãi. Trong giai đoạn 2026 – 2030, các sở ban ngành địa phương cần nhanh chóng tích hợp các phát hiện của công trình vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Hãy tham khảo và áp dụng ngay các kết quả nghiên cứu chuyên sâu của luận văn để nâng cao năng lực quản lý lưu vực sông và bảo vệ an toàn nguồn nước bền vững!