CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 1. Một số khái niệm về tính dễ bị tổn thương Trên thế giới hiện nay có khá nhiều định nghĩa và phƣơng pháp khác nhau để đánh giá tổn thƣơng.
Tuy nhiên chƣa có một định nghĩa thống nhất đƣợc thừa nhận trên toàn thế giới. Trong đó, các định nghĩa phổ biến về tính dễ bị tổn thƣơng (TDBTT) nhƣ: - Tổn thƣơng là khả năng mẫn cảm của tài nguyên tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã hội trƣớc những tác động tiêu cực của tai biến [38]. - Tổn thƣơng có liên hệ chặt ch với mức độ ảnh hƣởng của một tai biến nào đó đối với sinh kế của con ngƣời và điều này chủ yếu đƣợc xác định bởi các yếu tố xã hội, vật chất, kinh tế, môi trƣờng và chính trị, làm tăng tính nhạy cảm của cộng đồng trƣớc tác động của tai biến [29]. - Tổn thƣơng là mức độ thiệt hại của một thành tố hoặc một tập hợp các thành tố trong khu vực bị ảnh hƣởng bởi các mối nguy hiểm [41].
Các thành tố này có thể gồm một xã hội, một cộng đồng hay một hộ gia đình. Các hộ gia đình và cộng đồng có thể bị phơi lộ dƣới nhiều dạng tai biến khác nhau bao gồm các sự kiện thời tiết bất thƣờng, thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, xung đột dân sự, áp lực môi trƣờng - Tính dễ bị tổn thƣơng là một hàm của 2 biến của mức độ tổn thất do tai biến, khả năng chống chịu và phục hồi) [37]. - Tính dễ bị tổn thƣơng là khả năng bị tổn thƣơng của hệ thống tự nhiên – xã hội, là những đặc tính của hệ thống cho phép nó cảm nhận, ứng phó, chống đỡ và phục hồi từ những thay đổi bên ngoài tác động vào hệ thống [35]. - Khả năng tổn thƣơng xác định các đặc điểm của cá nhân hay cộng đồng về khả năng dự báo, ứng phó, chống chịu và phục hồi từ tác động của tai biến [42].
Rủi ro tai biến là một hàm của tai biến và khả năng tổn thƣơng, điều đó có nghĩa là khả năng tổn thƣơng chỉ mức độ địa phƣơng, cộng đồng, hộ gia đình hay cá nhân có thể bị ảnh hƣởng khi tai biến xảy ra. - TDBTT đề cặp đến xu hƣớng các nhân tố của môi trƣờng bị tác động từ bên ngoài, đối lập với nó là khả năng phục hồi và ứng phó lại trƣớc các yếu tố tác động của chính các nhân tố. - Khái niệm về tổn thƣơng do BĐKH đƣợc Ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC hoàn chỉnh qua từng thời kỳ. Theo khái niệm của IPCC, “Tính dễ bị tổn 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thƣơng do Biến đổi khí hậu là mức độ mà hệ thống dễ bị tác động và không có khả năng chống chịu trƣớc những tác động bất lợi bao gồm các hình thái thời tiết cực đoan và BĐKH ” [33].
IPCC cũng đã đƣa ra tính tổn thƣơng là một hàm số của 3 yếu tố: E của hệ thống trƣớc các tác động bất lợi của BĐKH; S của hệ thống trƣớc những thay đổi của khí hậu; năng lực thích ứng với BĐKH. Nhƣ vậy, mối quan hệ của chỉ số tính tổn thƣơng với các chỉ số thành phần có thể viết ngắn gọn lại theo mối quan hệ toán học [34], và s đƣợc trình bày cụ thể tại chƣơng II mục 2. Nhƣng nhận xét chung các định nghĩa này đều mang các đặc điểm chung của TDBTT là đánh giá về sự tác động của các yếu tố bên ngoài đến đối tƣợng bị tổn thƣơng và sự phục hồi hay ứng phó lại của chính đối tƣợng đó. Lịch sử nghiên cứu 1.
Thế giới Hơn 20 năm trƣớc, TDBTT đƣợc các nhà khoa học quan tâm tới. Nhƣng từ những năm 90 của thế kỷ XX, TDBTT đƣợc quan tâm nhiều hơn. Nó đƣợc thể hiện trong các công trình của M. Adger (1996 ; Cục Quản lý đại dƣơng và khí quyển quốc gia Mỹ – NOAA 1999 ; Sander Evan der Leeuw và Chr.
Vào cuối thế kỷ XX, NOAA và Cutter đã đƣa ra một số mô hình về tổn thƣơng và phƣơng pháp đánh giá tổn thƣơng, dựa trên các thông số đƣợc lƣợng hóa có hệ thống và đã đƣợc định hình trên thế giới. Trong đó, mô hình đánh giá tổn thƣơng của NOAA với sự đánh giá về mức độ nguy hiểm do các tai biến, mật độ đối tƣợng bị tổn thƣơng; mặt khác mô hình của Cutter lại xây dựng đánh giá tổn thƣơng xã hội với các tiêu chí đánh giá mang tính xã hội cao nhƣ tuổi, mật độ dân số, trình độ học vấn, Các mô hình trên đƣợc xây dựng với mục tiêu, cách tiếp cận khác nhau nhƣng đều cho kết quả là thành lập bản đồ TDBTT dựa trên các thành phần liên quan trong nghiên cứu. Một số khía cạnh đƣợc đề cập nhiều nhƣ tổn thƣơng do kinh tế, do chiến tranh khủng bố, do các tai biến thiên nhiên, [20]. Đặc biệt, các nghiên cứu của NOAA [38] đã xây dựng quy trình đánh giá khả năng bị tổn thƣơng gồm các bƣớc: nhận định các tai biến, phân tích tai biến, cơ sở hạ tầng, tài nguyên, kinh tế, xã hội và phân tích cơ hội giảm thiểu thiệt hại và những ứng dụng của việc đánh giá này quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ tài nguyên và tăng khả năng giảm thiểu, tái phát triển và sửa chữa lại các công trình bị hƣ hỏng, đƣa ra các chính sách đầu tƣ và phát triển cần đƣợc ƣu tiên.
Bên cạnh đó, mô hình đánh giá khả năng bị tổn thƣơng của Cutter [30] đƣợc xây dựng áp dụng cho đánh giá TDBTT của hệ thống tài nguyên, môi trƣờng. Trong đó, khả năng bị tổn thƣơng của hệ thống 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài nguyên, môi trƣờng có thể thay đổi theo thời gian do sự biến động của các yếu tố tai biến gây tổn thƣơng, sự thay đổi năng lực của cộng đồng đối phó với tai biến. Mức độ thiệt hại do tai biến không chỉ phụ thuộc vào bản thân các tai biến cƣờng độ, quy mô, tần suất mà còn phụ thuộc vào đặc tính và khả năng bị tổn thƣơng của đối tƣợng chịu tác động của tai biến. Mô hình này có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở cho việc phòng tránh tai biến và xây dựng chiến lƣợc phát triển kinh tế, xã hội theo cách tiếp cận “tiên đoán và ngăn chặn” những tác động tiêu cực của tai biến.
Đến năm 2000, Cutter đã nghiên cứu và đánh giá khả năng bị tổn thƣơng xã hội do tai biến. Trong đó, các yếu tố ảnh hƣởng tới khả năng bị tổn thƣơng xã hội gồm: cơ sở hạ tầng, đƣờng thoát hiểm, khả năng ứng phó với tai biến thấp, tín ngƣỡng và phong tục tập quán, thiếu thông tin, trí thức, thiếu quyền tiếp cận tài nguyên. Trong các nghiên cứu của SOPAC [39], bộ 50 chỉ số về tổn thƣơng môi trƣờng (EVI - Environmental Vulnerability Index đã tập trung xây dựng vào các khía cạnh nhƣ: khí hậu thay đổi, đa dạng sinh học, nƣớc, nông nghiệp và thủy sản, sức khỏe cộng đồng, các tai biến động đất, sóng thần, và hiện tƣợng thiên nhiên bão, lốc, cháy rừng,. Từng yếu tố gây tổn thƣơng đến môi trƣờng đều đƣợc định lƣợng và đề xuất ra các biện pháp giảm thiểu.
Công trình nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng và là nguồn dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế tại các nƣớc đang phát triển. Bên cạnh đó, nghiên cứu của USGS đã đánh giá khả năng tổn thƣơng cho đới ven biển toàn cầu do NBD, trong đó đã xây dựng đƣợc chỉ số tổn thƣơng đới bờ CVI - Coastal Vulnerability Index và từ đó đã thiết lập đƣợc bản đồ tổn thƣơng cho từng khu vực cụ thể. Hầu hết các nghiên cứu tổn thƣơng về trƣớc có xu hƣớng tập trung vào từng tác nhân riêng l nhƣ dâng cao mực nƣớc biển USGS, 2005 , lũ lụt Harvey, 2008 , xói lở bờ biển Boruff, 2005. Trong những năm sau này, các hƣớng nghiên cứu mới về tổn thƣơng theo tiếp cận tổng hợp các tác nhân của BĐKH đã đƣợc chú ý tới, trong đó có các công trình nghiên cứu của IPCC.
Cộng thêm sự phát triển của viễn thám và GIS đã giúp các nhà nghiên cứu xây dựng lên hệ thống cơ sở dữ liệu về các chỉ tiêu đánh giá TDBTT, chỉ tiêu đánh giá mức độ nguy hiểm do tai biến, chỉ tiêu đánh giá mật độ đối tƣợng bị tổn thƣơng, chỉ tiêu đánh giá khả năng ứng phó. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu TDBTT đƣợc xây dựng dựa vào hệ thống cơ sở dữ liệu bao gồm: các yếu tố gây tổn thƣơng các tai biến, các yếu tố ảnh hƣởng tới đặc điểm tự nhiên, xã hội ; đối tƣợng bị tổn thƣơng tài nguyên, môi trƣờng, cơ sở hạ tầng, cộng đồng ngƣời và khả năng ứng phó/phục hồi của hệ thống. Các nghiên cứu về tổn thƣơng và dự báo mức độ tổn thƣơng đã và đang đóng góp đáng kể trong việc quản lý tổng hợp, khai thác bền vững tài nguyên, hình thành các chƣơng trình ƣu tiên và bảo tồn, hoạch định chính sách, định hƣớng quy hoạch phát triển kinh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế, xã hội làm cơ sở cho đánh giá môi trƣờng chiến lƣợc và quy hoạch cơ sở hạ tầng tiếp cận gần với mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Do kết quả đang đƣợc áp dụng tại nhiều nơi trên thế giới và có độ chính xác cao, nên luận văn đã sử dụng các công trình nghiên cứu tổn thƣơng do BĐKH của IPCC.
Trong đó, IPCC đã chỉ ra 7 yếu tố quan trọng khi đánh giá tổn thƣơng, đó là: 1 cƣờng độ tác động; 2 thời gian tác động; 3 mức độ dai dẳng và tính thuận nghịch của tác động; 4 mức độ tin cậy trong đánh giá tác động và tính dễ bị tổn thƣơng; 5 năng lực thích ứng; 6 sự phân bố các khía cạnh của tác động và tính dễ bị tổn thƣơng, và 7 tầm quan trọng của hệ thống khi gặp nguy hiểm. Các yếu tố này có thể đƣợc sử dụng kết hợp với việc đánh giá những hệ thống có độ nhạy cảm S cao với các điều kiện về khí hậu nhƣ đới ven biển, hệ sinh thái, các chuỗi thức ăn,. Việt Nam Năm 1994, Ngân hàng Phát triển Châu Á đã xếp Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có nguy cơ tổn thƣơng cao do tác động của BĐKH và NBD. Điều này đã thúc đẩy việc nghiên cứu TDBTT vào những năm cuối thế kỷ 20.