Đánh giá tính dễ bị tổn thương do xâm nhập mặn đối với sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Nam Định

Luận văn thạc sĩ đánh giá tác động xâm nhập mặn đến nông nghiệp tại Nam Định trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Biến đổi khí hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

86
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu

1.2. Một số khái niệm về tính dễ bị tổn thương

1.3. Lịch sử nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp kế thừa và tổng hợp tài liệu

2.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa

2.3. Phương pháp và quy trình đánh giá tính dễ bị tổn thương dưới tác động của xâm nhập mặn

2.3.1. Phương pháp đánh giá

2.3.2. Quy trình đánh giá

2.4. Ứng dụng mô hình MIKE 11 trong việc phân tích xâm nhập mặn

2.4.1. Lý do chọn mô hình toán

2.4.2. Giới thiệu mô hình toán

2.4.3. Kiểm định mô hình

2.5. Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý GIS trong việc xây dựng bản đồ phân vùng tính dễ bị tổn thương

2.5.1. Phương pháp chuyên gia

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG DO XÂM NHẬP MẶN VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG TRONG NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HUYỆN VEN BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH

3.1. Tác động của xâm nhập mặn đến ngành nông nghiệp và khả năng thích ứng

3.1.1. Tác động của xâm nhập mặn

3.1.2. Khả năng thích ứng của ngành nông nghiệp

3.2. Diễn biến xâm nhập mặn theo mô hình MIKE 11

3.2.1. Sơ đồ mạng lưới sông

3.2.2. Số liệu tính toán mô hình

3.2.3. Kiểm định mô hình

3.2.4. Các bước thiết lập mô hình

3.2.5. Phân tích diễn biến xâm nhập mặn qua kết quả mô hình

3.3. Đánh giá tính dễ bị tổn thương do xâm nhập mặn đến lĩnh vực nông nghiệp

3.3.1. Kết quả tính toán độ phơi nhiễm (E)

3.3.2. Kết quả tính toán độ nhạy cảm (S)

3.3.3. Kết quả tính toán khả năng thích ứng (AC)

3.3.4. Đánh giá tính dễ bị tổn thương

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động xâm nhập mặn đến nông nghiệp Nam Định

Tỉnh Nam Định, nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, đang phải đối mặt với tình trạng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng. Biến đổi khí hậu đã làm cho mực nước biển dâng cao, dẫn đến việc xâm nhập mặn vào các vùng đất nông nghiệp. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp mà còn tác động đến đời sống của người dân. Nghiên cứu này sẽ đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến nông nghiệp tỉnh Nam Định trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

1.1. Tình hình xâm nhập mặn tại Nam Định

Tình hình xâm nhập mặn tại Nam Định đã diễn ra nghiêm trọng trong những năm gần đây. Các nghiên cứu cho thấy, mức độ xâm nhập mặn đã tăng lên đáng kể, ảnh hưởng đến nhiều diện tích đất nông nghiệp. Theo số liệu từ các trạm quan trắc, độ mặn trong nước đã vượt ngưỡng cho phép, gây khó khăn cho việc sản xuất nông nghiệp.

1.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp

Biến đổi khí hậu đã làm thay đổi các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, và mực nước biển. Những thay đổi này đã dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn sâu vào đất liền, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Các loại cây trồng như lúa, rau màu đang gặp khó khăn trong việc sinh trưởng và phát triển.

II. Vấn đề và thách thức từ xâm nhập mặn đến nông nghiệp

Sự gia tăng xâm nhập mặn đã tạo ra nhiều thách thức cho ngành nông nghiệp tại Nam Định. Các vấn đề như giảm năng suất cây trồng, mất đất canh tác, và ảnh hưởng đến chất lượng nước tưới là những thách thức lớn. Nông dân đang phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước ngọt, làm cho việc sản xuất nông nghiệp trở nên khó khăn hơn.

2.1. Giảm năng suất cây trồng

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng xâm nhập mặn làm giảm năng suất cây trồng. Đặc biệt, các loại cây nhạy cảm với độ mặn như lúa và rau màu bị ảnh hưởng nặng nề. Năng suất giảm không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân mà còn đến an ninh lương thực của khu vực.

2.2. Mất đất canh tác

Với tình trạng xâm nhập mặn gia tăng, nhiều diện tích đất canh tác đã bị bỏ hoang. Điều này không chỉ làm giảm diện tích sản xuất nông nghiệp mà còn ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang các mục đích khác cũng đang diễn ra, gây ra những hệ lụy lâu dài.

III. Phương pháp đánh giá tác động xâm nhập mặn đến nông nghiệp

Để đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến nông nghiệp, nhiều phương pháp đã được áp dụng. Các nghiên cứu sử dụng mô hình toán học và hệ thống thông tin địa lý (GIS) để phân tích diễn biến xâm nhập mặn và tác động của nó đến sản xuất nông nghiệp. Việc áp dụng các phương pháp này giúp đưa ra những giải pháp hiệu quả hơn trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu.

3.1. Mô hình toán học trong đánh giá

Mô hình toán học như MIKE 11 đã được sử dụng để phân tích diễn biến xâm nhập mặn. Mô hình này giúp dự đoán mức độ xâm nhập mặn trong tương lai và tác động của nó đến nông nghiệp. Kết quả từ mô hình cung cấp thông tin quan trọng cho việc lập kế hoạch ứng phó.

3.2. Ứng dụng GIS trong nghiên cứu

Hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã được áp dụng để xây dựng bản đồ phân vùng xâm nhập mặn. Bản đồ này giúp xác định các khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ xâm nhập mặn, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp cho từng vùng. Việc sử dụng GIS cũng giúp nâng cao khả năng quản lý tài nguyên nước.

IV. Giải pháp ứng phó với xâm nhập mặn trong nông nghiệp

Để giảm thiểu tác động của xâm nhập mặn đến nông nghiệp, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các biện pháp như cải tạo đất, sử dụng giống cây trồng chịu mặn, và quản lý nước tưới hợp lý là rất cần thiết. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức của nông dân về biến đổi khí hậu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ứng phó.

4.1. Cải tạo đất và sử dụng giống cây trồng chịu mặn

Cải tạo đất là một trong những giải pháp quan trọng để giảm thiểu tác động của xâm nhập mặn. Việc sử dụng giống cây trồng chịu mặn cũng giúp tăng khả năng sinh trưởng và năng suất cây trồng trong điều kiện đất mặn. Nghiên cứu cho thấy, các giống cây trồng này có thể giúp nông dân duy trì sản xuất ngay cả trong điều kiện khó khăn.

4.2. Quản lý nước tưới hợp lý

Quản lý nước tưới là một yếu tố quan trọng trong việc ứng phó với xâm nhập mặn. Việc sử dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước và xây dựng hệ thống trữ nước ngọt sẽ giúp nông dân có đủ nước tưới cho cây trồng. Điều này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn bảo vệ nguồn nước ngọt trong khu vực.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy, xâm nhập mặn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp tại Nam Định. Tuy nhiên, với các giải pháp ứng phó hợp lý, khả năng thích ứng của nông dân có thể được nâng cao. Việc áp dụng các biện pháp cải tạo đất, sử dụng giống cây trồng chịu mặn, và quản lý nước tưới sẽ giúp giảm thiểu tác động của xâm nhập mặn.

5.1. Đánh giá hiệu quả các giải pháp

Các giải pháp đã được áp dụng tại một số địa phương cho thấy hiệu quả tích cực trong việc giảm thiểu tác động của xâm nhập mặn. Năng suất cây trồng đã được cải thiện đáng kể, giúp nông dân duy trì sinh kế. Việc đánh giá hiệu quả của các giải pháp này là cần thiết để nhân rộng mô hình.

5.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ được ứng dụng vào thực tiễn thông qua các chương trình đào tạo cho nông dân. Việc nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậuxâm nhập mặn sẽ giúp nông dân có những biện pháp ứng phó hiệu quả hơn. Các chính sách hỗ trợ từ chính quyền cũng cần được triển khai để giúp nông dân vượt qua khó khăn.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai

Tình trạng xâm nhập mặn tại Nam Định đang ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân. Tuy nhiên, với các giải pháp ứng phó hợp lý, khả năng thích ứng của nông dân có thể được nâng cao. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng cho việc quản lý tài nguyên nước mà còn góp phần vào việc xây dựng các chính sách phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

6.1. Triển vọng phát triển nông nghiệp bền vững

Triển vọng phát triển nông nghiệp bền vững tại Nam Định phụ thuộc vào khả năng ứng phó với xâm nhập mặn. Việc áp dụng các công nghệ mới và cải tiến phương pháp sản xuất sẽ giúp nông dân duy trì sản xuất trong điều kiện khó khăn. Chính sách hỗ trợ từ chính quyền cũng cần được tăng cường để đảm bảo sự phát triển bền vững.

6.2. Nhu cầu nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc đánh giá sâu hơn về tác động của xâm nhập mặn đến các lĩnh vực khác như môi trường và kinh tế. Việc xây dựng các mô hình dự báo và ứng phó sẽ giúp nâng cao khả năng thích ứng của cộng đồng trước những thách thức từ biến đổi khí hậu.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá tính dễ bị tổn thương do xâm nhập mặn đối với sản xuất nông nghiệp tại các khu vực cửa sông ven biển tỉnh nam định trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 1. Một số khái niệm về tính dễ bị tổn thương Trên thế giới hiện nay có khá nhiều định nghĩa và phƣơng pháp khác nhau để đánh giá tổn thƣơng.

Tuy nhiên chƣa có một định nghĩa thống nhất đƣợc thừa nhận trên toàn thế giới. Trong đó, các định nghĩa phổ biến về tính dễ bị tổn thƣơng (TDBTT) nhƣ: - Tổn thƣơng là khả năng mẫn cảm của tài nguyên tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã hội trƣớc những tác động tiêu cực của tai biến [38]. - Tổn thƣơng có liên hệ chặt ch với mức độ ảnh hƣởng của một tai biến nào đó đối với sinh kế của con ngƣời và điều này chủ yếu đƣợc xác định bởi các yếu tố xã hội, vật chất, kinh tế, môi trƣờng và chính trị, làm tăng tính nhạy cảm của cộng đồng trƣớc tác động của tai biến [29]. - Tổn thƣơng là mức độ thiệt hại của một thành tố hoặc một tập hợp các thành tố trong khu vực bị ảnh hƣởng bởi các mối nguy hiểm [41].

Các thành tố này có thể gồm một xã hội, một cộng đồng hay một hộ gia đình. Các hộ gia đình và cộng đồng có thể bị phơi lộ dƣới nhiều dạng tai biến khác nhau bao gồm các sự kiện thời tiết bất thƣờng, thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, xung đột dân sự, áp lực môi trƣờng - Tính dễ bị tổn thƣơng là một hàm của 2 biến của mức độ tổn thất do tai biến, khả năng chống chịu và phục hồi) [37]. - Tính dễ bị tổn thƣơng là khả năng bị tổn thƣơng của hệ thống tự nhiên – xã hội, là những đặc tính của hệ thống cho phép nó cảm nhận, ứng phó, chống đỡ và phục hồi từ những thay đổi bên ngoài tác động vào hệ thống [35]. - Khả năng tổn thƣơng xác định các đặc điểm của cá nhân hay cộng đồng về khả năng dự báo, ứng phó, chống chịu và phục hồi từ tác động của tai biến [42].

Rủi ro tai biến là một hàm của tai biến và khả năng tổn thƣơng, điều đó có nghĩa là khả năng tổn thƣơng chỉ mức độ địa phƣơng, cộng đồng, hộ gia đình hay cá nhân có thể bị ảnh hƣởng khi tai biến xảy ra. - TDBTT đề cặp đến xu hƣớng các nhân tố của môi trƣờng bị tác động từ bên ngoài, đối lập với nó là khả năng phục hồi và ứng phó lại trƣớc các yếu tố tác động của chính các nhân tố. - Khái niệm về tổn thƣơng do BĐKH đƣợc Ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC hoàn chỉnh qua từng thời kỳ. Theo khái niệm của IPCC, “Tính dễ bị tổn 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thƣơng do Biến đổi khí hậu là mức độ mà hệ thống dễ bị tác động và không có khả năng chống chịu trƣớc những tác động bất lợi bao gồm các hình thái thời tiết cực đoan và BĐKH ” [33].

IPCC cũng đã đƣa ra tính tổn thƣơng là một hàm số của 3 yếu tố: E của hệ thống trƣớc các tác động bất lợi của BĐKH; S của hệ thống trƣớc những thay đổi của khí hậu; năng lực thích ứng với BĐKH. Nhƣ vậy, mối quan hệ của chỉ số tính tổn thƣơng với các chỉ số thành phần có thể viết ngắn gọn lại theo mối quan hệ toán học [34], và s đƣợc trình bày cụ thể tại chƣơng II mục 2. Nhƣng nhận xét chung các định nghĩa này đều mang các đặc điểm chung của TDBTT là đánh giá về sự tác động của các yếu tố bên ngoài đến đối tƣợng bị tổn thƣơng và sự phục hồi hay ứng phó lại của chính đối tƣợng đó. Lịch sử nghiên cứu 1.

Thế giới Hơn 20 năm trƣớc, TDBTT đƣợc các nhà khoa học quan tâm tới. Nhƣng từ những năm 90 của thế kỷ XX, TDBTT đƣợc quan tâm nhiều hơn. Nó đƣợc thể hiện trong các công trình của M. Adger (1996 ; Cục Quản lý đại dƣơng và khí quyển quốc gia Mỹ – NOAA 1999 ; Sander Evan der Leeuw và Chr.

Vào cuối thế kỷ XX, NOAA và Cutter đã đƣa ra một số mô hình về tổn thƣơng và phƣơng pháp đánh giá tổn thƣơng, dựa trên các thông số đƣợc lƣợng hóa có hệ thống và đã đƣợc định hình trên thế giới. Trong đó, mô hình đánh giá tổn thƣơng của NOAA với sự đánh giá về mức độ nguy hiểm do các tai biến, mật độ đối tƣợng bị tổn thƣơng; mặt khác mô hình của Cutter lại xây dựng đánh giá tổn thƣơng xã hội với các tiêu chí đánh giá mang tính xã hội cao nhƣ tuổi, mật độ dân số, trình độ học vấn, Các mô hình trên đƣợc xây dựng với mục tiêu, cách tiếp cận khác nhau nhƣng đều cho kết quả là thành lập bản đồ TDBTT dựa trên các thành phần liên quan trong nghiên cứu. Một số khía cạnh đƣợc đề cập nhiều nhƣ tổn thƣơng do kinh tế, do chiến tranh khủng bố, do các tai biến thiên nhiên, [20]. Đặc biệt, các nghiên cứu của NOAA [38] đã xây dựng quy trình đánh giá khả năng bị tổn thƣơng gồm các bƣớc: nhận định các tai biến, phân tích tai biến, cơ sở hạ tầng, tài nguyên, kinh tế, xã hội và phân tích cơ hội giảm thiểu thiệt hại và những ứng dụng của việc đánh giá này quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ tài nguyên và tăng khả năng giảm thiểu, tái phát triển và sửa chữa lại các công trình bị hƣ hỏng, đƣa ra các chính sách đầu tƣ và phát triển cần đƣợc ƣu tiên.

Bên cạnh đó, mô hình đánh giá khả năng bị tổn thƣơng của Cutter [30] đƣợc xây dựng áp dụng cho đánh giá TDBTT của hệ thống tài nguyên, môi trƣờng. Trong đó, khả năng bị tổn thƣơng của hệ thống 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài nguyên, môi trƣờng có thể thay đổi theo thời gian do sự biến động của các yếu tố tai biến gây tổn thƣơng, sự thay đổi năng lực của cộng đồng đối phó với tai biến. Mức độ thiệt hại do tai biến không chỉ phụ thuộc vào bản thân các tai biến cƣờng độ, quy mô, tần suất mà còn phụ thuộc vào đặc tính và khả năng bị tổn thƣơng của đối tƣợng chịu tác động của tai biến. Mô hình này có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở cho việc phòng tránh tai biến và xây dựng chiến lƣợc phát triển kinh tế, xã hội theo cách tiếp cận “tiên đoán và ngăn chặn” những tác động tiêu cực của tai biến.

Đến năm 2000, Cutter đã nghiên cứu và đánh giá khả năng bị tổn thƣơng xã hội do tai biến. Trong đó, các yếu tố ảnh hƣởng tới khả năng bị tổn thƣơng xã hội gồm: cơ sở hạ tầng, đƣờng thoát hiểm, khả năng ứng phó với tai biến thấp, tín ngƣỡng và phong tục tập quán, thiếu thông tin, trí thức, thiếu quyền tiếp cận tài nguyên. Trong các nghiên cứu của SOPAC [39], bộ 50 chỉ số về tổn thƣơng môi trƣờng (EVI - Environmental Vulnerability Index đã tập trung xây dựng vào các khía cạnh nhƣ: khí hậu thay đổi, đa dạng sinh học, nƣớc, nông nghiệp và thủy sản, sức khỏe cộng đồng, các tai biến động đất, sóng thần, và hiện tƣợng thiên nhiên bão, lốc, cháy rừng,. Từng yếu tố gây tổn thƣơng đến môi trƣờng đều đƣợc định lƣợng và đề xuất ra các biện pháp giảm thiểu.

Công trình nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng và là nguồn dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế tại các nƣớc đang phát triển. Bên cạnh đó, nghiên cứu của USGS đã đánh giá khả năng tổn thƣơng cho đới ven biển toàn cầu do NBD, trong đó đã xây dựng đƣợc chỉ số tổn thƣơng đới bờ CVI - Coastal Vulnerability Index và từ đó đã thiết lập đƣợc bản đồ tổn thƣơng cho từng khu vực cụ thể. Hầu hết các nghiên cứu tổn thƣơng về trƣớc có xu hƣớng tập trung vào từng tác nhân riêng l nhƣ dâng cao mực nƣớc biển USGS, 2005 , lũ lụt Harvey, 2008 , xói lở bờ biển Boruff, 2005. Trong những năm sau này, các hƣớng nghiên cứu mới về tổn thƣơng theo tiếp cận tổng hợp các tác nhân của BĐKH đã đƣợc chú ý tới, trong đó có các công trình nghiên cứu của IPCC.

Cộng thêm sự phát triển của viễn thám và GIS đã giúp các nhà nghiên cứu xây dựng lên hệ thống cơ sở dữ liệu về các chỉ tiêu đánh giá TDBTT, chỉ tiêu đánh giá mức độ nguy hiểm do tai biến, chỉ tiêu đánh giá mật độ đối tƣợng bị tổn thƣơng, chỉ tiêu đánh giá khả năng ứng phó. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu TDBTT đƣợc xây dựng dựa vào hệ thống cơ sở dữ liệu bao gồm: các yếu tố gây tổn thƣơng các tai biến, các yếu tố ảnh hƣởng tới đặc điểm tự nhiên, xã hội ; đối tƣợng bị tổn thƣơng tài nguyên, môi trƣờng, cơ sở hạ tầng, cộng đồng ngƣời và khả năng ứng phó/phục hồi của hệ thống. Các nghiên cứu về tổn thƣơng và dự báo mức độ tổn thƣơng đã và đang đóng góp đáng kể trong việc quản lý tổng hợp, khai thác bền vững tài nguyên, hình thành các chƣơng trình ƣu tiên và bảo tồn, hoạch định chính sách, định hƣớng quy hoạch phát triển kinh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế, xã hội làm cơ sở cho đánh giá môi trƣờng chiến lƣợc và quy hoạch cơ sở hạ tầng tiếp cận gần với mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Do kết quả đang đƣợc áp dụng tại nhiều nơi trên thế giới và có độ chính xác cao, nên luận văn đã sử dụng các công trình nghiên cứu tổn thƣơng do BĐKH của IPCC.

Trong đó, IPCC đã chỉ ra 7 yếu tố quan trọng khi đánh giá tổn thƣơng, đó là: 1 cƣờng độ tác động; 2 thời gian tác động; 3 mức độ dai dẳng và tính thuận nghịch của tác động; 4 mức độ tin cậy trong đánh giá tác động và tính dễ bị tổn thƣơng; 5 năng lực thích ứng; 6 sự phân bố các khía cạnh của tác động và tính dễ bị tổn thƣơng, và 7 tầm quan trọng của hệ thống khi gặp nguy hiểm. Các yếu tố này có thể đƣợc sử dụng kết hợp với việc đánh giá những hệ thống có độ nhạy cảm S cao với các điều kiện về khí hậu nhƣ đới ven biển, hệ sinh thái, các chuỗi thức ăn,. Việt Nam Năm 1994, Ngân hàng Phát triển Châu Á đã xếp Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có nguy cơ tổn thƣơng cao do tác động của BĐKH và NBD. Điều này đã thúc đẩy việc nghiên cứu TDBTT vào những năm cuối thế kỷ 20.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ