Tổng quan nghiên cứu

Khu vực đồng bằng ven biển tỉnh Nam Định sở hữu vị trí địa lý trọng yếu với 72 km bờ biển và hệ thống mạng lưới sông ngòi dày đặc đổ ra 3 cửa sông lớn gồm cửa Ba Lạt sông Hồng, cửa Ninh Cơ và cửa Đáy. Ba huyện ven biển trọng điểm là Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng chiếm diện tích 72.477 ha, tương đương hơn 43% tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh. Tuy nhiên, phần lớn địa hình khu vực này là vùng đất trũng thấp với cao độ tự nhiên trung bình chỉ từ 0,7 m đến 1,0 m so với mực nước biển, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm nóng dễ chịu tổn thương nặng nề nhất do biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Ngành nông nghiệp giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu kinh tế địa phương, đóng góp gần 18% tổng giá trị sản xuất toàn tỉnh với quy mô đạt hơn 25.000 tỷ đồng. Dưới tác động kép của nước biển dâng và hiện tượng hạn hán cực đoan, tình trạng xâm nhập mặn ngày càng lấn sâu vào nội đồng, đe dọa trực tiếp đến an ninh nguồn nước và sinh kế của hàng trăm nghìn hộ dân. Theo các số liệu quan trắc, hàng năm toàn khu vực có khoảng 12.000 ha đất canh tác bị nhiễm mặn, trong đó có xấp xỉ 5.000 ha bị nhiễm mặn nặng dẫn đến mất khả năng sản xuất.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác lập cơ sở khoa học, lượng hóa tính dễ bị tổn thương do xâm nhập mặn đối với sản xuất nông nghiệp tại 3 huyện ven biển thông qua việc tích hợp mô hình mô phỏng thủy lực và công nghệ hệ thống thông tin địa lý. Đề tài tập trung phân tích diễn biến xâm nhập mặn giai đoạn hiện trạng và dự báo theo các kịch bản biến đổi khí hậu, làm căn cứ thực tiễn để phân vùng tổn thương và đề xuất các giải pháp thích ứng bền vững cho ngành nông nghiệp Nam Định.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết đánh giá tính dễ bị tổn thương của Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), trong đó tính dễ bị tổn thương (V) được xác định là một hàm toán học phụ thuộc vào 3 thành phần chính: Độ phơi nhiễm (E), Độ nhạy cảm (S) và Năng lực thích ứng (AC) theo cấu trúc hàm số V = f(E, S, AC). Mức độ tổn thương tỷ lệ thuận với độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và tỷ lệ nghịch với năng lực thích ứng của hệ thống tự nhiên - xã hội.

Bên cạnh đó, tác giả kế thừa mô hình tổn thương xã hội của Susan Cutter (2000), bộ 50 chỉ số tổn thương môi trường (EVI) của SOPAC và phương pháp đánh giá chỉ số tổn thương đới bờ (CVI) của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS). Hệ thống khái niệm trung tâm được chuẩn hóa bao gồm:

  • Độ phơi nhiễm: mức độ tiếp xúc của hệ thống sản xuất trước các áp lực khí hậu cực đoan;
  • Độ nhạy cảm: mức độ phản ứng hoặc bị tác động tiêu cực của các yếu tố sinh kế, cây trồng, vật nuôi;
  • Năng lực thích ứng: khả năng điều chỉnh, tự phục hồi và ứng phó của con người và hạ tầng kỹ thuật;
  • Xâm nhập mặn: quá trình gia tăng nồng độ muối hòa tan trong các tầng nước mặt và nước ngầm vượt ngưỡng 1,0‰ - 4,0‰;
  • Biến đổi khí hậu: sự dịch chuyển dài hạn của các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển dâng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng từ chuỗi số liệu khí tượng thủy văn nhiều năm tại 4 trạm quan trắc trọng điểm gồm Nam Định, Liễu Đề, Vụ Bản, Giao Thủy; bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000; các lớp dữ liệu không gian hành chính, thổ nhưỡng và số liệu Niên giám thống kê giai đoạn 2010 - 2017.

Phương pháp khảo sát xã hội học sử dụng cỡ mẫu 447 hộ nông dân canh tác tại các vùng chuyển đổi mô hình chịu mặn, kết hợp phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên và phỏng vấn sâu 20 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực khí tượng, thủy văn và quản lý tài nguyên đất. Lý do lựa chọn cách tiếp cận này nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các tiểu vùng sinh thái cửa sông và phản ánh chân thực năng lực thích ứng thực tế của cộng đồng dân cư.

Để lượng hóa diễn biến xâm nhập mặn, nghiên cứu ứng dụng mô hình toán MIKE 11 với 2 mô-đun cốt lõi: mô-đun thủy động lực (HD) giải hệ phương trình Saint-Venant một chiều không ổn định và mô-đun tải khuếch tán (AD) giải phương trình đối lưu - khuếch tán nồng độ mặn. Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định đạt độ tin cậy rất cao với hệ số tương quan R2 đạt trên 0,85 so với số liệu thực đo. Sau khi chuẩn hóa 23 chỉ số thành phần về thang điểm không thứ nguyên từ 0 đến 1, phần mềm MapInfo 15 được ứng dụng để chồng chập bản đồ chuyên đề theo trọng số, phân vùng không gian mức độ tổn thương trên toàn bộ 72.477 ha vùng nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả mô phỏng từ mô hình MIKE 11 và phân tích không gian GIS đã làm sáng tỏ 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, ranh giới xâm nhập mặn có xu hướng lấn sâu bất thường vào hệ thống sông chính trong mùa kiệt. Dưới kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5, nồng độ mặn vượt ngưỡng 1,5‰ lan truyền sâu vào nội đồng từ 15 km đến trên 25 km tính từ các cửa sông Ba Lạt, Ninh Cơ và Đáy. Thời gian duy trì độ mặn cao kéo dài liên tục từ 15 đến 22 ngày trong các đợt triều cường, gây tê liệt nguồn cấp nước tưới tự chảy cho các công trình thủy nông nội đồng.

Thứ hai, mức độ tổn thương có sự phân hóa không gian rõ rệt giữa 3 địa bàn hành chính. Huyện Giao Thủy có chỉ số tổn thương cao nhất do sở hữu vùng bãi triều rộng lớn, diện tích đất thấp dưới 0,8 m chiếm trên 65% và chịu tác động trực tiếp từ cửa Ba Lạt. Huyện Nghĩa Hưng xếp ở mức tổn thương trung bình cao với nhiều vùng trũng lòng chảo cục bộ, trong khi huyện Hải Hậu có chỉ số tổn thương thấp hơn nhờ cao trình mặt đất tự nhiên cao hơn từ 0,8 m đến 1,3 m cùng mạng lưới đê biển kiên cố.

Thứ ba, sự suy giảm nghiêm trọng của các diện tích nông nghiệp truyền thống. Ba huyện ven biển chiếm 58.983 ha diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt (chiếm trên 37% toàn tỉnh), nhưng sản lượng lúa giai đoạn gần đây đã giảm mạnh từ 5,5% tại Hải Hậu đến 7,7% tại Nghĩa Hưng do đất bị nhiễm mặn và thiếu nước ngọt tưới dưỡng. Ngược lại, ngành nuôi trồng thủy sản phát triển bùng nổ với 10.313 ha (chiếm 66,12% diện tích toàn tỉnh), đạt giá trị sản xuất vượt trội từ 446,65 đến 468,69 triệu đồng trên mỗi hecta mặt nước, tuy nhiên lại rất nhạy cảm với các đợt sốc độ mặn khi bão và triều cường đổ bộ.

Thứ tư, hệ sinh thái rừng ngập mặn và đa dạng sinh học cửa sông bị suy thoái mạnh. Diện tích rừng phòng hộ tại Nghĩa Hưng bị thu hẹp 504 ha so với năm 2010. Khu vực Vườn Quốc gia Xuân Thủy thuộc Giao Thủy chứng kiến hiện tượng chết cục bộ của nhiều dải rừng phi lao ven Cồn Lu, làm suy giảm môi trường sống của các loài thủy sản bản địa có giá trị kinh tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn gia tăng xuất phát từ sự tương tác phức tạp giữa chế độ nhật triều biên độ lớn (từ 1,6 m đến 3,31 m) của Vịnh Bắc Bộ với tình trạng suy giảm dòng chảy thượng lưu sông Hồng vào mùa khô. Việc các hồ chứa thủy điện lớn ở thượng nguồn tích nước làm lưu lượng dòng chảy hạ du giảm sút, tạo điều kiện cho sóng triều mặn truyền sâu tới 150 km vào nội địa.

Khi so sánh với các nghiên cứu tương tự tại vùng ven biển Kim Sơn (Ninh Bình) hay Đồng bằng sông Cửu Long, mức độ tổn thương tại Nam Định mang tính đặc thù cao do đặc điểm canh tác lúa nước xen kẽ nuôi thủy sản nước lợ. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua bảng ma trận trọng số các chỉ số E, S, AC và bản đồ GIS phân vùng 3 cấp độ tổn thương (Cao, Trung bình, Thấp) kết hợp với các biểu đồ đường quá trình diễn biến mặn theo thời gian từ MIKE 11. Các phân tích này khẳng định rằng giải pháp công trình ngăn mặn nếu không đi đôi với chuyển đổi sinh kế mềm dẻo sẽ khó duy trì tính bền vững lâu dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân vùng tính dễ bị tổn thương, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống hạ tầng thủy lợi ngăn mặn trữ ngọt: Triển khai thi công hoàn thành 10 cụm công trình thủy lợi trọng điểm theo Quy hoạch thủy lợi Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tiêu biểu như cống đập sông Đào, cống Quần Liêu và cống đập sông Ninh Cơ. Gia cố, nâng cấp 663 km đê sông và đê biển nhằm bảo đảm an toàn trước bão cấp 10 - 12 kết hợp triều cường tần suất 5%. Chủ thể thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp UBND tỉnh Nam Định; thời gian thực hiện từ 2025 đến 2030.

  • Tự động hóa hệ thống quan trắc và cảnh báo xâm nhập mặn: Thiết lập mạng lưới 15 trạm cảm biến đo độ mặn tự động truyền dữ liệu thời gian thực tại các cống lấy nước đầu mối dọc sông Hồng, sông Ninh Cơ và sông Đáy. Ứng dụng công nghệ Internet vạn vật để điều hành đóng mở cống tự động khi độ mặn vượt quá 1,0‰, mục tiêu giảm thiểu 100% rủi ro lấy nhầm nước mặn vào đồng ruộng. Chủ thể thực hiện: Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Xuân Thủy và các huyện; hoàn thành trước năm 2027.

  • Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng và mùa vụ thích ứng mặn: Mở rộng diện tích gieo cấy các giống lúa thuần chịu mặn như RVT, lúa đặc sản chịu mặn trên quy mô 5.000 ha đất nhiễm mặn nhẹ; đẩy mạnh trà lúa xuân muộn để né hạn mặn đầu vụ. Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng, ngao bãi triều công nghệ cao đạt giá trị trên 500 triệu đồng/ha. Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Hợp tác xã nông nghiệp; lộ trình 2025 - 2028.

  • Hoàn thiện khung pháp lý và bảo tồn hệ sinh thái bãi bồi ven biển: Thực hiện nghiêm túc Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Nghị định 44/2014/NĐ-CP trong giao quyền sử dụng đất bãi triều; phục hồi và trồng mới 300 ha rừng ngập mặn phòng hộ tại Giao Thủy và Nghĩa Hưng nhằm nâng cao khả năng giữ đất, tiêu sóng và giảm thiểu xói lở bờ biển. Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định, UBND các huyện ven biển; duy trì liên tục giai đoạn 2025 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo UBND tỉnh Nam Định, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường. Lợi ích: Sử dụng bản đồ phân vùng tổn thương và dữ liệu kịch bản xâm nhập mặn để lồng ghép vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai và phê duyệt các dự án đầu tư công trình thủy lợi ngăn mặn.

  • Các viện nghiên cứu, trường đại học và học viên chuyên ngành: Giảng viên, nhà khoa học, học viên cao học thuộc các ngành Biến đổi khí hậu, Thủy văn học, Quản lý tài nguyên môi trường và Khoa học liên ngành. Lợi ích: Tiếp cận quy trình phương pháp luận chuẩn quốc tế kết hợp giữa khung chỉ số IPCC, mô hình toán MIKE 11 và công nghệ không gian GIS trong đánh giá rủi ro thiên tai.

  • Doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã và chủ trang trại: Các đơn vị tổ chức sản xuất nông - thủy sản tại 3 huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Lợi ích: Nắm bắt lịch trình xâm nhập mặn theo mùa và các bộ giống cây trồng chịu mặn (như lúa RVT) để chủ động điều chỉnh lịch thời vụ, đầu tư hệ thống ao lắng trữ ngọt, tối ưu hóa chi phí sản xuất.

  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Các tổ chức như Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD), UNDP, Ngân hàng Thế giới (WB). Lợi ích: Sử dụng số liệu điều tra thực địa để thiết kế các dự án tài trợ phát triển sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Xuân Thủy.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình toán MIKE 11 đóng vai trò gì trong việc đánh giá xâm nhập mặn tại Nam Định? Mô hình MIKE 11 đóng vai trò là công cụ tính toán thủy động lực và truyền tải chất, giúp giải quyết bài toán dòng chảy một chiều không ổn định và quá trình khuếch tán mặn dọc 3 nhánh sông Ba Lạt, Ninh Cơ, Đáy. Với hệ số tương quan R2 đạt trên 0,85, mô hình cho phép dự báo chính xác phạm vi lan truyền của ranh mặn 1,5‰ và 4‰ theo các kịch bản mực nước biển dâng.

Tại sao huyện Giao Thủy lại có chỉ số tổn thương cao hơn huyện Hải Hậu? Huyện Giao Thủy có địa hình tự nhiên thấp hơn (cao độ chỉ từ 0,7 m đến 0,8 m), trực tiếp đối diện với cửa sông lớn Ba Lạt và có diện tích đất bãi triều ngập mặn rộng. Ngược lại, huyện Hải Hậu có địa hình cao hơn (từ 0,8 m đến 1,3 m), hệ thống đê biển kiên cố hơn và tỷ lệ cơ giới hóa nông nghiệp cao, giúp giảm thiểu độ nhạy cảm và gia tăng năng lực thích ứng.

Xâm nhập mặn tác động thế nào đến giá trị kinh tế của ngành nuôi trồng thủy sản? Xâm nhập mặn gây biến động đột ngột về độ mặn và nhiệt độ nước, làm gia tăng dịch bệnh và gây sốc môi trường cho các đối tượng thủy sản nước ngọt và nước lợ. Dù ngành này đạt giá trị kinh tế cao từ 446 đến 468 triệu đồng/ha tại 3 huyện ven biển, nhưng chi phí xử lý nước, tu sửa ao đầm và rủi ro mất mùa tăng lên đáng kể, làm giảm lợi nhuận ròng của nông dân.

Hiệu quả thực tế của mô hình giống lúa chịu mặn RVT tại địa phương ra sao? Trong các vụ thử nghiệm thực tế với sự tham gia của 447 hộ dân, giống lúa RVT thể hiện khả năng chịu mặn tốt, chống đổ ngã, ít sâu bệnh và rút ngắn thời gian sinh trưởng. Giống lúa này giúp né tránh các đợt bão lũ cuối vụ, đảm bảo năng suất ổn định trên các chân ruộng nhiễm mặn ven biển Nam Định, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn các giống truyền thống.

Ưu điểm của việc kết hợp chỉ số IPCC với công nghệ GIS là gì? Phương pháp tiếp cận của IPCC giúp lượng hóa đa chiều các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội thành 3 hợp phần E, S và AC. Khi tích hợp vào phần mềm MapInfo 15 GIS, các số liệu thuộc tính được chuyển hóa thành bản đồ không gian trực quan, giúp các nhà quản lý dễ dàng nhận diện chính xác từng khu vực có nguy cơ tổn thương cao để ưu tiên nguồn lực can thiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập thành công quy trình đánh giá tính dễ bị tổn thương do xâm nhập mặn đối với nông nghiệp vùng cửa sông ven biển Nam Định theo chuẩn khung lý thuyết IPCC.
  • Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết diễn biến mặn bằng mô hình MIKE 11 (hệ số R2 trên 0,85), xác định ranh mặn 1,5‰ xâm nhập sâu từ 15 km đến 25 km vào nội đồng trong mùa kiệt.
  • Bản đồ GIS phân vùng tổn thương đã chỉ rõ sự phân hóa không gian, trong đó Giao Thủy là địa bàn có mức độ dễ bị tổn thương cao nhất, tiếp theo là Nghĩa Hưng và Hải Hậu.
  • Đề tài đã đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện kết hợp giữa công trình ngăn mặn (10 cống đập, 663 km đê) và giải pháp phi công trình (giám sát mặn tự động, giống lúa RVT, bảo tồn rừng ngập mặn).
  • Định hướng tiếp theo cần mở rộng mô hình hóa 2 chiều cho các vùng bãi triều ngập nước và cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất.

Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các cơ quan quản lý quan tâm đến phát triển nông nghiệp bền vững vùng ven biển hãy cùng ứng dụng các kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn quy hoạch và hành động thích ứng biến đổi khí hậu ngay hôm nay.