Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới 1. Đánh giá tác động xã hội của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp Trước những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness).
Từ sau năm 1990 các hoạt động đánh giá được thực hiện đã bao gồm cả đánh giá tác động (impact assessment), tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John et al, 2000). Hiện nay, việc đánh giá tác động được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá, bao gồm tất cả các thay đổi về sinh thái, văn hoá - xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem lại bởi các hoạt động của một chương trình, dự án. Đánh giá tác động môi trường và xã hội (ESIA) đang ngày càng được tăng cường và áp dụng ở nhiều ngành với mục tiêu nhằm đảm bảo cho các vấn đề môi trường và xã hội được quan tâm thoả đáng trước khi đưa ra những lựa chọn đầu tư quan trọng, là phương tiện phù hợp để hỗ trợ quá trình ra quyết định [5]. Đánh giá và giám sát tác động nhằm để trả lời câu hỏi: những thay đổi được mong đợi có thực sự xảy ra không? và có hay không những tác động không được mong đợi nhằm điều chỉnh việc quản lý chương trình, dự án; cung cấp thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định từ cấp dự án tới cấp ra chính sách nhằm xác định mức độ bền vững của các hoạt động cũng như khâu thiết kế dự án; Giải trình cho các thành viên dự án về các mục tiêu đã được đề ra và vấn đề sử dụng các nguồn tài nguyên đã được cung cấp [5].
Năm 1996 trong báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland, Micheal Luedeke và Jeff Martin (1996) đã khuyến nghị rằng hoạt động đánh giá tài chính đơn thuần chỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu tố hàng đầu, còn đối với các dự án đầu tư mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường. [54] việc đánh giá hiệu quả kinh tế (áp dụng giá bóng - tính đến lạm phát, chi phí cơ hội) nên đồng thời là các đánh giá hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường trong đánh giá các chương trình, dự án lâm nghiệp. FAO [56], [57] nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng. Cũng theo FAO [50], một dự án trong lâm nghiệp dù có đạt được hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, B/C,.) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội (tạo việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng,.) và hiệu quả môi trường thì không được coi là một dự án bền vững.
Nghị định thư Kyoto ra đời và việc thành lập Quĩ môi trường toàn cầu (GEF) càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Đứng về phương diện các phương thức canh tác, hay sử dụng các phương án sử dụng đất khác nhau, Walfredo [55] đã cho rằng: Phương thức canh tác sẽ có những tác động tới kinh tế, sinh thái và xã hội từ đó sẽ có ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, cân bằng sinh thái và phát triển xã hội. Tất cả các mối quan hệ ảnh hưởng này sẽ tác động toàn diện về kinh tế - xã hội - bảo vệ môi trường sinh thái. Nghiên cứu về quản lý rừng bền vững Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà khoa học trên thế giới có sự quan tâm đặc biệt về vấn đề sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững.
Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các nhu cầu của con người ở các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau dẫn đến sự đa dạng, phức tạp và những quan điểm khác nhau của công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, điểm giống nhau cơ bản khi nói đến quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững đều được thể hiện ở ba vấn đề: kinh tế, xã hội và môi trường. Cuối cùng người ta cũng đã cố gắng đưa ra một định nghĩa về QLRBV nhằm diễn đạt bản chất của nó, đồng thời để từ đó xây dựng nên những nguyên tắc cơ bản trong công tác QLRBV. Khái niệm về QLRBV hình thành từ đầu thế kỷ XVIII, ban đầu chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục.
Cùng với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và phát triển kinh tế - xã hội, QLRBV đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ sang quản lý kinh doanh nhiều mặt tài nguyên rừng, quản lý hệ thống sinh thái rừng và cuối cùng là QLRBV trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí được xác lập chặt chẽ, 6 toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. QLRBV là việc đóng góp của công tác lâm nghiệp đối với sự phát triển, sự phát triển đó phải mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai. Vào đầu thế kỷ 18, các Nhà lâm học Đức như Harting, GL [59], Heyer, F [60],… đã đề xuất ra nguyên tắc sử dụng lâu bền đối với rừng thuần loài đều tuổi. Vào thời điểm này các nhà khoa học người Pháp (Gournand, 1922) và người Thụy Sỹ (H.
Biolley) cũng đã đề ra phương pháp kiểm tra, điều chỉnh sản lượng đối với rừng đồng tuổi khai thác chọn [58]. Hiện nay đã có nhiều tổ chức đưa ra khái niệm QLRBV như Tổ chức Gỗ nhiệt đới (ITTO), Hiệp ước Helsinki, Ủy ban Quốc tế về môi trường và phát triển,. Các định nghĩa trên có cách diễn đạt khác nhau nhưng bao gồm hai vấn đề chính là quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra và đảm bảo sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường (Nguyễn Ngọc Lung, 2007) [31]. Vấn đề đặt ra với QLRBV là như thế nào? đó là công tác quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng nhằm ngăn chặn tình trạng mất rừng do khai thác sử dụng quá mức mà trong đó việc khai thác lợi dụng tài nguyên rừng không mâu thuẫn với việc đảm bảo vốn rừng, đảm bảo chức năng tái sản xuất của rừng, đồng thời phát huy được vai trò chức năng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái bền vững của rừng đối với con người và thiên nhiên.
Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý rừng đã tập trung ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. Vai trò sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng không được chú ý. Mặc dù trong các quy định pháp luật thì rừng là tài sản của toàn dân nhưng trên thực tế người dân không hề được hưởng lợi từ rừng, vì vậy họ chỉ biết khai thác rừng để lấy lâm sản và lấy đất canh tác phục vụ cho nhu cầu sống của chính họ mà cũng không hề quan tâm đến vấn đề xây dựng và bảo vệ vốn rừng. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng nên trong giai đoạn này tình trạng khai thác quá mức trở thành nguyên nhân quan trọng của suy thoái nghiêm trọng tài nguyên rừng [43].
7 Từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây, khi tài nguyên rừng ở nhiều quốc gia đã bị giảm sút nghiêm trọng, môi trường sinh thái và cuộc sống của đồng bào miền núi bị đe dọa thì phương thức quản lý tập trung như trước đây không còn thích hợp nữa. Người ta đã tìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái rừng thông qua việc ban bố một số chính sách nhằm động viên và thu hút người dân tham gia quản lý và sử dụng tài nguyên rừng. Phương thức quản lý rừng cộng đồng (hay lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khác nhau như lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội (Nêpan, Thái Lan, Philippin,. Do diện tích rừng bị suy thoái và canh tác nông nghiệp không bền vững, FAO (1967 - 1969) đã quan tâm đến phát triển nông lâm kết hợp và trong các nghiên cứu của mình đã đi đến thống nhất: áp dụng biện pháp nông lâm kết hợp là phương thức tốt nhất để sử dụng đất rừng nhiệt đới một cách hợp lý, tổng hợp và nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động dư thừa đồng thời thiết lập cân bằng sinh thái [50].
Các chính sách thu hút người dân tham gia vào công tác quản lý rừng Nghiên cứu của Ianuskơ K. (1996) cho thấy để duy trì được hiệu quả, tính ổn định và bền vững của rừng cần phải giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh tế, trong đó cần có kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà máy chế biến lâm sản với các quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách đòn bẩy để thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng, phương thức canh tác phải gắn với kiến thức bản địa và được người dân áp dụng. Theo Thom R Waggener (2000) để phát triển trồng rừng theo hướng sản xuất hàng hoá với hiệu quả kinh tế cao không chỉ đòi hỏi phải có sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật mà còn phải nghiên cứu làm sáng tỏ hàng loạt vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường. Chính vì vậy ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Canada,.
nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào 2 vấn đề lớn là thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Liu Jinlong (2004) [52] dựa trên việc phân tích và đánh giá thực tế đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng ở Trung Quốc là: 8 i) Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá. ii) Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước. iii) Giảm thuế đánh vào các lâm sản.
iv) Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng. v) Phát triển hợp tác giữa các công ty lâm nghiệp với người dân để phát triển trồng rừng.