Tổng quan nghiên cứu

Quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế đang trở thành yêu cầu sống còn của ngành lâm nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Thống kê lịch sử cho thấy diện tích rừng tự nhiên nước ta từng sụt giảm nghiêm trọng từ 14,3 triệu ha năm 1945 xuống còn 9,2 triệu ha năm 1990 với độ che phủ chỉ 27,2%. Nhờ các chương trình phục hồi quy mô quốc gia, đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, tổng diện tích rừng toàn quốc đã nâng lên 12,333 triệu ha, đưa độ che phủ đạt 38,2%. Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020 đặt mục tiêu xác lập lâm phận ổn định 15,6 triệu ha, trong đó phấn đấu ít nhất 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC.

Thực hiện Nghị định 200/2004/NĐ-CP của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh, Lâm trường Văn Chấn thuộc tỉnh Yên Bái bước vào giai đoạn chuyển đổi cơ cấu tổ chức sang mô hình Công ty Lâm nghiệp. Quá trình chuyển đổi này làm nảy sinh nhiều xung đột phức tạp giữa mục tiêu tự chủ tài chính của doanh nghiệp và bài toán an sinh xã hội cho cộng đồng dân cư địa phương. Đề tài tập trung đánh giá toàn diện các tác động xã hội trong công tác quản lý rừng tại 4 xã vùng cao trọng điểm gồm Nậm Búng, Gia Hội, Sơn Lương và Nậm Lành trong giai đoạn 2001 - 2008. Mục tiêu then chốt của nghiên cứu là xác định mức độ tương thích của đơn vị với các tiêu chuẩn xã hội trong Bộ tiêu chuẩn Quốc gia về quản lý rừng bền vững, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp ưu tiên nhằm cân bằng lợi ích kinh tế với mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm sinh kế cho 14.522 người dân sinh sống tại khu vực giáp ranh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết Quản lý rừng bền vững (SFM) và lý thuyết Đánh giá tác động môi trường và xã hội (ESIA). Mô hình quản lý rừng bền vững hiện đại bắt nguồn từ các nguyên tắc lâm học cổ điển của Hartig và Biolley, sau đó được hoàn thiện bởi Tổ chức Gỗ Nhiệt đới Quốc tế (ITTO) và Hội đồng Quản trị Rừng Quốc tế (FSC) với quan điểm phát triển hài hòa 3 trụ cột: hiệu quả kinh tế, bền vững môi trường và công bằng xã hội. Bên cạnh đó, khung lý luận về lâm nghiệp cộng đồng và nông lâm kết hợp của FAO được vận dụng để làm sáng tỏ mối quan hệ phụ thuộc giữa sinh kế người dân vùng cao với tài nguyên rừng.

Bốn khái niệm nền tảng xuyên suốt đề tài bao gồm: Quản lý rừng bền vững (quản lý và khai thác tài nguyên rừng đảm bảo chức năng tái tạo sinh thái và an sinh xã hội); Chứng chỉ rừng FSC (chứng nhận quốc tế về quy trình khai thác và chuỗi hành trình sản phẩm có trách nhiệm); Đánh giá tác động xã hội (nhận diện, dự báo và lượng hóa những biến đổi về thu nhập, việc làm, văn hóa bản địa do các hoạt động lâm nghiệp tạo ra); và Giao khoán quản lý bảo vệ rừng (cơ chế phân định quyền lợi, nghĩa vụ giữa chủ rừng nhà nước và các hộ gia đình nhận khoán).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm 32 báo cáo chuyên đề về hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường Văn Chấn, 12 báo cáo kinh tế xã hội của 4 xã từ năm 2006 đến năm 2008, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật lâm nghiệp hiện hành.

Cỡ mẫu điều tra thực địa được thiết lập khoa học với 40 hộ gia đình thuộc 8 thôn bản đại diện cho 4 xã nghiên cứu, 11 cán bộ lãnh đạo và công nhân lâm trường, 12 cán bộ chính quyền cấp xã, cùng 4 chuyên gia đầu ngành thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Yên Bái. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện đầy đủ cho 7 thành phần dân tộc thiểu số và 3 nhóm mức sống (khá, trung bình, nghèo).

Tác giả lựa chọn phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), phỏng vấn bán cấu trúc và phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) kết hợp đối chiếu khoảng cách theo Bộ tiêu chuẩn FSC phiên bản 9C. Việc kết hợp các phương pháp này là lựa chọn tối ưu vì cho phép thu thập đa chiều các số liệu định tính về nhận thức bản địa mà các bảng thống kê tài chính đơn thuần không thể phản ánh. Toàn bộ quy trình thu thập và phân tích dữ liệu được tiến hành liên tục trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc sắp xếp lại doanh nghiệp làm biến động mạnh quy mô quản lý đất đai. Diện tích quản lý của Lâm trường Văn Chấn giảm từ 21.662,5 ha tại 20 xã xuống còn 6.584,1 ha tập trung tại 4 xã (giảm 69,6%). Trong lâm phận còn lại, diện tích rừng tự nhiên là 4.682,3 ha nhưng chỉ có khoảng 2.000 ha sở hữu trữ lượng trên 100 m3/ha, chủ yếu là các loài cây gỗ thuộc nhóm V đến nhóm VIII có giá trị thương phẩm thấp. Rừng trồng phòng hộ chỉ chiếm 627,1 ha Thông mã vĩ với chất lượng sinh trưởng kém, và 1.274,7 ha đất khoanh nuôi chuyển sang sản xuất.

Thứ hai, áp lực sinh kế của cộng đồng lên tài nguyên rừng ở mức rất cao. Tổng dân số 4 xã là 14.522 người phân bổ trong 2.522 hộ gia đình (bình quân 5,2 người mỗi hộ), với tỷ lệ lao động chiếm 50,0% dân số. Cơ cấu dân tộc cho thấy người Thái chiếm 36,2% (5.263 nhân khẩu), người Dao chiếm 28,6% (4.148 nhân khẩu), người Kinh chiếm 14,7% (2.134 nhân khẩu), phần còn lại là người Dáy, Tày, Mường và H'Mông (151 nhân khẩu). Mức độ nghèo đói phân hóa sâu sắc, riêng xã Nậm Lành vẫn nằm trong diện xã 135 đặc biệt khó khăn.

Thứ ba, cơ chế giao khoán bảo vệ rừng chưa tạo ra nguồn thu nhập đột phá. Trước năm 2006, lâm trường ký hợp đồng giao khoán bảo vệ 21.779,9 ha rừng phòng hộ thuộc dự án 661 cho 1.061 hộ, nhưng khi nguồn vốn chương trình kết thúc và diện tích co hẹp, sinh kế của người nhận khoán bị ảnh hưởng trực tiếp. Nhu cầu sử dụng củi đun nấu và gỗ làm nhà mới của người dân địa phương hàng năm rất lớn, tạo áp lực xâm lấn thường trực vào diện tích rừng tự nhiên.

Thứ tư, đơn vị bộc lộ nhiều lỗ hổng khi đối chiếu với các tiêu chuẩn xã hội của FSC. Đơn vị chưa có cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai văn bản hóa, tỷ lệ người dân hiểu rõ ranh giới lâm phận còn thấp, và các chính sách chia sẻ lợi ích lâm sản ngoài gỗ chưa được thể chế hóa đồng bộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trên bắt nguồn từ việc chuyển dịch cơ chế kinh tế từ bao cấp sang hạch toán độc lập khiến nguồn thu của đơn vị bị suy giảm đột ngột sau khi dừng khai thác rừng tự nhiên từ năm 2004. Hạ tầng cơ sở khu vực nghiên cứu còn nhiều yếu kém: tỷ lệ sử dụng điện lưới quốc gia ở xã Nậm Lành chỉ đạt 40%, Gia Hội 60%, Sơn Lương 65% và Nậm Búng 87%. Toàn bộ 23,4 km đường lâm nghiệp bị sạt lở hư hỏng nặng do thiếu kinh phí bảo trì. Về giáo dục, trong năm học 2007 - 2008, toàn bộ 4 xã chỉ có 50 học sinh theo học bậc trung học phổ thông và 100% đều tập trung tại xã Sơn Lương, trong khi 3 xã Nậm Búng, Gia Hội và Nậm Lành hoàn toàn không có học sinh trung học phổ thông.

Khi so sánh với các công trình đánh giá tác động tại Lâm trường Trường Sơn (Quảng Bình) hay Đắk Tô (Kon Tum), nghiên cứu tại Văn Chấn phản ánh rõ nét hơn sự mâu thuẫn giữa tập quán du canh, chăn thả gia súc tự do với công tác phòng cháy chữa cháy rừng. Trong thực tế phân tích, các nguồn thu nhập từ chè Shan tuyết, quế và chăn nuôi đại gia súc của từng nhóm hộ gia đình có thể được mô hình hóa trực quan qua hệ thống biểu đồ tròn phân bổ chi tiêu và bảng cân đối thu chi, chứng minh rằng sự thành công của quản lý rừng bền vững phụ thuộc trực tiếp vào việc tái cấu trúc chuỗi giá trị nông lâm nghiệp tại chỗ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế giao khoán và chia sẻ lợi ích tài nguyên rừng. Ban Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Văn Chấn cần chủ trì rà soát lại toàn bộ hợp đồng khoán bảo vệ rừng, đặt mục tiêu nâng mức hỗ trợ và mở rộng diện tích giao khoán cho tối thiểu 800 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trong giai đoạn 2010 - 2012, bảo đảm tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng và phụ cấp tuần tra chiếm từ 20% đến 25% cơ cấu thu nhập hàng năm của hộ nghèo.

Thứ hai, thiết lập quy chế tham vấn cộng đồng và cắm mốc ranh giới lâm phận rõ ràng. Công ty Lâm nghiệp phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn và chính quyền 4 xã hoàn thành việc cắm mốc thực địa cho 100% diện tích 6.584,1 ha trước quý IV năm 2011, đồng thời ban hành quy trình xử lý khiếu nại tranh chấp đất đai công khai, minh bạch theo đúng Tiêu chí 2 và Tiêu chí 3 của chuẩn FSC.

Thứ ba, phát triển các mô hình nông lâm kết hợp nâng cao sinh kế. Đội Lâm nghiệp Nậm Búng và Đội Lâm nghiệp Mường Lò phối hợp cùng Trạm Khuyến nông triển khai mở rộng diện tích trồng cây chè Shan vùng cao và trồng quế dưới tán rừng sản xuất, mục tiêu tạo việc làm ổn định cho khoảng 300 lao động nhàn rỗi và giảm 15% tỷ lệ hộ nghèo tại xã Nậm Lành giai đoạn 2010 - 2015.

Thứ tư, nâng cao năng lực thể chế và nhận thức về chứng chỉ rừng. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái phối hợp với tổ chức GTZ tổ chức định kỳ các khóa tập huấn kỹ thuật lâm sinh, an toàn lao động và quy chuẩn xã hội FSC cho 100% cán bộ, công nhân viên lâm trường cùng trưởng thôn của 8 thôn giáp ranh trước năm 2013.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và quản lý tại các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ trên toàn quốc: Tài liệu cung cấp bộ công cụ phân tích hiện trạng và khung hành động thực tiễn để giải quyết triệt để các xung đột đất đai giữa doanh nghiệp và cư dân bản địa trong giai đoạn tái cơ cấu.

Thứ tư, các chuyên gia tư vấn và tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực chứng chỉ rừng: Luận văn là case study điển hình cung cấp các chỉ số thực địa về đánh giá khoảng cách theo chuẩn FSC phiên bản Việt Nam tại các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

Thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, Phòng Tài nguyên và Môi trường): Nghiên cứu mang lại luận cứ khoa học sắc bén để hoạch định chính sách giao đất, giao rừng gắn liền với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Kinh tế nông lâm nghiệp: Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu xã hội học lâm nghiệp, kỹ năng ứng dụng PRA và phân tích kinh tế hộ nông thôn miền núi.

Câu hỏi thường gặp

Một là, tại sao đánh giá tác động xã hội lại là điều kiện bắt buộc trong quản lý rừng bền vững? Đánh giá tác động xã hội giúp xác định các nguy cơ xung đột tài nguyên giữa chủ rừng và cộng đồng. Một phương án lâm nghiệp dù đạt hiệu quả tài chính cao nhưng nếu đẩy 14.522 người dân địa phương vào tình trạng mất sinh kế hoặc mất đất canh tác thì sẽ đối mặt với nguy cơ bị phá hoại, cháy rừng, khiến mục tiêu phát triển bền vững hoàn toàn thất bại.

Hai là, việc chuyển đổi từ lâm trường quốc doanh sang công ty lâm nghiệp ảnh hưởng thế nào đến quyền lợi người dân? Khi diện tích lâm trường thu hẹp từ 21.662,5 ha xuống 6.584,1 ha, các nguồn ngân sách hỗ trợ trồng rừng 661 bị cắt giảm. Nếu không có cơ chế khoán sản xuất mới, hơn 1.000 hộ dân từng nhận khoán sẽ mất đi nguồn thu nhập định kỳ, buộc họ phải tìm kiếm sinh kế thay thế từ việc khai thác lâm sản trái phép.

Ba là, rào cản lớn nhất của Lâm trường Văn Chấn trong việc đáp ứng tiêu chuẩn xã hội FSC là gì? Thách thức lớn nhất là trình độ dân trí và hạ tầng quá thấp. Tỷ lệ hộ nghèo cao, 100% học sinh 3 xã không học cấp 3, cùng thói quen thả rông gia súc và đốt nương rẫy khiến việc thực thi các quy ước bảo vệ rừng và lưu trữ hồ sơ tham vấn cộng đồng theo chuẩn quốc tế gặp nhiều trở ngại.

Bốn là, giải pháp nào cân bằng giữa nhu cầu lấy củi gỗ của người dân và bảo tồn rừng tự nhiên? Cần quy hoạch rõ ràng các phân khu rừng sản xuất và diện tích rừng trồng phụ trợ (như Thông mã vĩ hoặc Keo) để cung cấp củi đun và gỗ gia dụng tại chỗ, kết hợp hỗ trợ người dân chuyển đổi sang các loại bếp tiết kiệm năng lượng và mô hình khí sinh học.

Năm là, phương pháp đánh giá có sự tham gia (PRA) đem lại giá trị gì cho nghiên cứu lâm nghiệp? PRA cho phép 40 hộ dân đại diện cho 7 thành phần dân tộc thiểu số trực tiếp bày tỏ nguyện vọng, vẽ sơ đồ tài nguyên thôn bản và thảo luận về sinh kế. Phương pháp này giúp loại bỏ định kiến một chiều của nhà nghiên cứu, bảo đảm kết quả khảo sát phản ánh đúng thực trạng đời sống thực tế.

Kết luận

Năm đóng góp cốt lõi của công trình nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá tác động xã hội trong quản lý rừng bền vững tại khu vực miền núi phía Bắc.
  • Lượng hóa chính xác thực trạng sản xuất, cơ cấu thu nhập và mức độ phụ thuộc tài nguyên rừng của 2.522 hộ gia đình tại 4 xã vùng Tây Bắc tỉnh Yên Bái.
  • Chỉ rõ 4 điểm yếu và nguy cơ cốt tử của Lâm trường Văn Chấn khi thu hẹp 69,6% diện tích đất quản lý sau chuyển đổi doanh nghiệp.
  • Nhận diện khoảng cách chi tiết giữa thực tiễn quản lý rừng của lâm trường với các tiêu chuẩn xã hội thuộc Bộ tiêu chuẩn Quốc gia FSC phiên bản 9C.
  • Xây dựng lộ trình 4 nhóm giải pháp ưu tiên với các mốc thời gian rõ ràng từ năm 2010 đến năm 2015 nhằm hài hòa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.

Để hiện thực hóa mục tiêu quản lý rừng bền vững, Công ty Lâm nghiệp Văn Chấn cùng chính quyền địa phương cần khẩn trương bắt tay vào việc hoàn thiện cắm mốc ranh giới và triển khai mô hình nông lâm kết hợp ngay trong quý tới. Quý độc giả, nhà quản lý và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp khung phân tích xã hội học lâm nghiệp này để thúc đẩy lộ trình cấp chứng chỉ rừng FSC tại các địa phương trên toàn quốc.