CHƯƠNG 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI KKT Dung Quất được Thủ Tướng Chính Phủ thành lập trên cơ sở KCN Dung Quất tại Quyết Định số 50/2005/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 03 năm 2005. KKT Dung Quất là KKT tổng hợp, đa ngành đa lĩnh vực với trọng tâm là phát triển công nghiệp lọc hoá dầu, hoá chất, các ngành có quy mô lớn bao gồm: công nghiệp cơ khí, đóng và sửa chữa tàu biển, luyện cán thép, sản xuất xi măng, sản xuất container và các ngành công nghiệp sản xuất tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu; gắn với việc phát triển và khai thác hiệu quả cảng biển nước sâu Dung Quất, sân bay quốc tế Chu Lai và đô thị công nghiệp - dịch vụ Vạn Tường, đô thị Dốc Sỏi… Trong thời gian q ua, KKT Dung Quất đã cơ bản hoàn thành hệ thống hạ tầng, bước đầu đáp ứng nhu cầu triển khai dự án đầu tư cho các doanh nghiệp. Nhiều dự án với quy mô lớn đã thực hiện đầu tư vào KKT Dung Quất như: Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy luyện cán thép của Công ty TNHH Guang Lian Steel VN, Nhà máy sản xuất thiết bị công nghiệp nặng Doosan, Nhà máy Polypropylen, Nhà máy đóng tàu Dung Quất (hiện nay đã đi vào sản xuất), một số Nhà máy nghiền Clanker… KKT Dung Quất đang trong giai đoạn tăng tốc đầu tư phát triển.
Song song với vấn đề đầu tư và phát triển, nguy cơ gia tăng ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, sinh vật và suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên trong KKT Dung Quất. Trong đó, ô nhiễm môi trường nước sông Trà Bồng là một trong những v ấn đề quan trọng cần phải được sớm quan tâm, xem xét, nghiên cứu tìm giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp với quá trình xây dựng và phát triển KKT Dung Quất. Sông Trà Bồng sẽ là nơi tiếp nhận các nguồn nước thải, rác thải từ các cụm công nghiệp, các cụm dân cư sinh sống, là vùng nhạy cảm về môi trường và chịu áp lực cao về môi trường. Đó là lý do đề tài “" Đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế - xã hội Khu kinh tế Dung Quất đến chất lượng nước sông Trà Bồng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu” được chọn và thực hiện nhằm đưa ra các dự báo về các nguồn gây ô nhiễm môi trường và đề suất các giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực lên hệ sinh thái và môi trường trên sông Trà Bồng từ sự phát triển của KKT Dung Quất là hết sức cần thiết.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Phân tích và đánh giá các tác động của hoạt động KT -XH và những nguy cơ tiềm ẩn của KKT Dung Quất đến chất lượng nước sông Trà Bồng. Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động đến chất lượng nước sông Trà Bồng. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Địa điểm: Tại KKT Dung Quất Thời gian: Từ tháng 09/2008 đến tháng 12/2008; Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng nước sông Trà Bồng. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Thu thập và tổng hợp các thông tin, dữ liệu về điều kiện tự nhiên và phát triển KT - XH của KKT Dung Quất và các vùng phụ cận; Thu thập và tổng hợp các thông tin, dữ liệu về chất lượng môi trường và công tác quản lý môi trường tại KKT Dung Quất; Thu thập và tổng hợp các thông tin, dữ liệu đã có về chất lượng nước sông Trà Bồng; Đánh giá số liệu quan trắc; Đề xuất các biện pháp giảm thiểu các tác động đến chất lượng nước sông Trà Bồng ở KKT Dung Quất và các vùng lân cận; Viết báo cáo tổng hợp; 1.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp luận Trên cơ sở các phương pháp tìm hiểu, phân tích thành phần, chất lượng nước sông Trà Bồng kết hợp với các phương pháp khảo sát, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp chuyên gia… từ đó đánh giá được chất lượng nước sông Trà Bồng ở KKT Dung Quất và đề xuất các biện pháp giảm thiểu. Lý thuyết và thực tiễn. Phương pháp thu thập tài liệu có liên quan, tổng hợp và phân tích dữ liệu; Khảo sát thực địa kết hợp điều tra; Phương pháp lấy mẫu, phân tích, đo đạc các chỉ tiêu môi trường theo tiêu chuẩn; Phương pháp tiếp cận hệ thống để phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan đến chất lượng nước và bảo vệ môi trường; Phương pháp chuyên gia: hợp tác và trao đổi thông tin, kinh nghiệm với các chuyên gia đa ngành; Trên cơ sở kết quả thu được đề xuất phương hướng và biện pháp giảm thiểu tác động.
DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC Tập báo cáo bao gồm các thông tin và dữ liệu về đề tài; Đánh giá được các tác động của hoạt động KT -XH và các nguy cơ ềm ti ẩn ở KKT Dung Quất đến chất lượng nước sông Trà Bồng; Đề suất các biện pháp giảm thiểu tác động của hoạt động KT-XH và các nguy cơ tiề m ẩn ở KKT Dung Quất đến chất lượng nước sông Trà Bồng. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU KINH TẾ DUNG QUẤT 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 2. Vị trí địa lý KKT Dung Quất nằm trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, bao gồm 09 xã, gồm: Bình Chánh, Bình Thạnh, Bình Đông, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Hải và một phần diện tích đất các xã Bình Phước, Bình Hoà và Bình Phú.
KKT Dung Quất nằm ở trung điểm của Việt Nam, cách 2 trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 860 km. Ngoài ra KKT Dung Quất là điểm đầu của một trong những tuyến đường xuyên Á nối với Lào, Campuchia và Thái Lan. Cách sân bay Chu Lai 23 km, Cảng Dung Quất 15 km, KCN nặng 10 – 15 km, KCN nhẹ 5 km, cách thành phố Đà Nẵng 100 km, cách thành phố Quảng Ngãi 25 - 40 km. Phía Tây giáp giáp Quốc lộ 1A.
Phía Bắc giáp sân bay Chu Lai. Phía Đông và Đông Bắc giáp Biển Đông. Phía Tây Nam giáp Thành phố Quảng Ngãi. Địa hình Địa hình của KKT Dung Quất mang những nét đặc trưng của địa hình ven biển tỉnh Quảng Ngãi: dạng địa hình bán sơn địa, bao gồm núi thấp, đụn cát, sông hồ, đất ngập mặn, ruộng lúa và các dãy đồi thấp có cây dại che phủ với độ dốc từ 3 – 20o.
Dung Quất nằm trong vùng có địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ địa hình biến thiên không cao, có xu hướng dốc thoải ra biển Đông. Khu vực ven biển phía Đông trải dài từ thành phố Vạn Tường đến An Thành (thuộc huyện Bình Sơn) có diện tích mặt bằng khá lớn và địa hình tương đối bằng phẳng, rất phù hợp để xây dựng khu dân cư và khu du lịch ven biển. Khí hậu Tỉnh Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới và gió mùa. Nhiệt độ trung bình 250C đến 26,90C.
Thời tiết được chia làm 2 mùa: mưa, nắng rõ rệt. - Mùa nắng: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng 8 âm lịch. - Mùa mưa: Từ hạ tuần tháng tám âm lịch đến thượng tuần tháng giêng âm lịch. - Gió mùa: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến tháng 8 âm lịch, gió thổi từ Đông Nam qua Tây Bắc.
- Bão và áp thấp nhiệt đới : Ở Quảng Ngãi các trận bão thường xảy ra trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch nhất là hai tháng 10 và 11. Nhiệt độ không khí Theo số liệu của trạm khí tượng Quảng Ngãi, nhiệt độ không khí trung bình tại Quảng Ngãi trong 3 năm gần đây được trình bày như trong bảng sau: Bảng 2.1 - Nhiệt độ không khí trung bình trong ba năm gần đây Nhiệt độ Không khí trung bình ( oC ) Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB Năm 2005 22,1 21,9 24,5 27,1 28,8 28,9 28,8 28,5 27,3 25,0 24,3 21,8 25,8 2006 21,7 23,9 23,2 26,4 29,3 30,0 28,5 28,6 27,7 26,1 25,2 23,3 26,2 2007 28,1 23,4 24,7 27,3 28,1 29,9 29,8 28,1 27,1 26,3 25,6 23,3 26,8 TB 24,0 23,1 24,1 26,9 28,7 29,6 29,0 28,4 27,4 25,8 25,0 22,8 26,2 (Nguồn: Trạm khí tượng Quảng Ngãi – năm 2007) 8 Theo số liệu trong bảng trên, nhiệt độ không khí tại Quảng Ngãi phụ thuộc vào mùa, nhiệt độ không khí vào mùa khô thường cao hơn nhiệt độ không khí vào mùa mưa. Chênh lệch nhiệt giữa 2 mùa khoảng từ 5 – 60C. Nhiệt độ trung bình tháng đạt giá trị lớn nhất vào các tháng 4, 5, 6, 7, 8 khoảng 26,90C – 29,60C.
Chế độ mưa Tổng lượng mưa trung bình năm phổ biến ở đồng bằng từ 2. Lượng mưa tại Quảng Ngãi khá dồi dào nhưng phân bố không đều theo các tháng trong năm và theo địa hình từng nơi tạo ra hai mùa: mùa mưa và ít mưa khá rõ rệt. Các đặc trưng của chế độ mưa trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi được tính toán và trình bày như trong bảng sau: Bảng 2.2 - Lượng nước mưa trung bình tháng trong các năm gần đây Lượng mưa trung bình (mm) Tổng Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm 2005 119 2 25 8 107 285 45 200 343 434 481 173 2222 2006 12 34 84 3 1 120 85 149 289 970 481 668 3147 2007 125 54 2 13 69 50 121 233 331 276 221 510 1958 TB 85,3 30 37 8 59 136,7 83,7 194 321 560 394,3 450,3 2442 (Nguồn: Trạm khí tượng Quảng Ngãi - năm 2007) Qua bảng và biểu đồ ở trên thấy rằng, lượng mưa trung bình trong 3 năm gần đây của tỉnh Quảng Ngãi đạt khoảng 2. Tháng 10 là tháng có lượng mưa trung bình tháng cao nhất, khoảng 560mm chiếm từ 25% tổng lượng mưa toàn năm.
Lượng mưa tháng quá tập trung vào vài tháng cụ thể tháng 10, 11,12 cộng với địa hình của tỉnh có độ dốc lớn nên hằng năm cứ đến mùa mưa lũ thì đồng bằng thường bị ngập lụt. Chênh lệch về lượng mưa giữa tháng có lượng mưa lớn nhất và tháng có lượng mưa thấp nhất là khá lớn. Tháng có lượng mưa trung bình tháng thấp nhất là tháng 4 khoảng 8mm. Đối với mùa mưa lượng mưa trung bình lớn nhất là vào tháng 10 nên lượng nước ngấm vào bãi rác cao nên lượng nước rỉ rác sinh ra nhiều cần phải có hệ thống xử lý nước rác hoàn thiện, vấn đề tách nước mưa khỏi nước rác phải được thực hiện nhằm giảm lượng nước rác và chi phí xử lý nước rác.