MỞ ĐẦU Từ Đại hội lần thứ VI Đảng đã quyết định thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế, áp dụng chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, nên nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc đáng mừng. Với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú, khí hậu ôn hoà, nguồn nhân lực dồi dào, áp dụng nhiều chính sách phát triển kinh tế hợp lý…Việt Nam đã trở thành một nước có tốc độ phát triển kinh tế cao, với mức tăng trưởng trung bình trong những năm qua đạt 7,5%. Trong đó ngành da giày đã có những đóng góp đáng kể vào tốc độ phát triển kinh tế chung cả nước, 10 tháng đầu năm 2006 mặt hàng giày dép đạt kim ngạch 2,87 tỷ USD, nằm trong nhóm 8 mặt hàng có kim ngạcch trên 1 tỷ USD và đang trên đà phát triển. Theo dự báo của Bộ thương mại về triển vọng xuất khẩu giày dép của nước ta đến năm 2010 đạt khoảng 6,2-6,5 tỷ USD và tăng trưởng với tốc độ bình quân 16,7% năm.
Với tốc độ phát triển như vậy, sẽ thu thút thêm một lượng lớn người lao động. Hiện ngành này giải quyết việc làm cho hơn 500.000 lao động, đa phần là lao động nữ chiếm trên 70% tổng số lao động của ngành. Ngành da giày sử dụng phần lớn lao động nữ ở độ tuổi 20-35. Song môi truờng lao động có nhiều yếu tố nguy hiểm và có hại như: nóng, hơi hoá chất và tiếng ồn, bụi, sử dụng nhiều lao động thủ công,…Do đó, công tác bảo hộ lao động cần được quan tâm đúng mức nhằm mang lại môi trường làm việc an toàn cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng.
Công tác bảo hộ lao động đã được Đảng, Bác Hồ và Nhà nước quan tâm từ những ngày đầu lập nước. Qua các kỳ Đại hội Đảng, trong các văn kiện đều đề cập đến nhiệm vụ bảo đảm an toàn vệ sinh lao động. Các cơ quan chức năng được thể chế hoá qua những văn bản pháp luật liên quan đến công tác bảo hộ lao động: Bộ Luật Lao động ban hành 1994 được sửa đổi bổ sung năm 2002, các Quyết định, Nghị định, Thông tư, Tiêu chuẩn,…Đến nay, nước ta đã có tương đối đầy đủ các văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho những hoạt động trong lĩnh vực này. Như vậy, vai trò quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực an toàn đã thực hiện tương đối tốt.
Nhưng quá trình thực hiện công tác bảo hộ lao động không thể giao phó cho một đối tượng nào, mà cần đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ trung ương đến địa phương, triển khai thực hiện đến từng cơ sở với sự phối hợp thực hiện của các tổ chức và cá nhân liên quan. Mỗi cơ sở sản xuất quan tâm đến công tác bảo hộ lao động là góp phần cho việc cải thiện điều kiện lao động. Từ đó, sức khoẻ người lao động được nâng lên và mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp: tăng uy tín của cơ sở, đảm bảo cho tốc độ phát triển lâu dài, và nhiều lợi ích kinh tế khác. Vì vậy, các cơ sở sản xuất cần thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, để đạt được yêu cầu phải có những đánh giá về thực Trang 6 trạng công tác bảo hộ lao động tại cơ sở.
Qua đó, đưa ra các giải pháp để xây dựng kế hoạch bảo hộ lao động ngắn hạn và dài hạn hợp lý hơn. Từ lý do trên, sau hơn bốn năm học ngành bảo hộ lao động tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác bảo hộ lao động tại Công ty Tae Kwang Vina. Đề xuất mội số giải pháp cải thiện điều kiện lao động” cho luận văn tốt nghiệp của mình. Từ những giải pháp trên có thể đóng góp một phần nhỏ công sức nhằm cải thiện điều kiện lao động trong Công ty nói riêng và ngành da giày nói chung.
Công ty Tae Kwang Vina với các hình thức sản xuất như: sản xuất chính là giày thể thao hiệu Nike và sản xuất phụ: sản xuất khuôn, sửa chữa máy móc…Tuy nhiên, trong luận văn tốt nghiệp này chỉ đưa ra những giải pháp cải thiện các điều kiện làm việc trong khu vực sản xuất chính. Trang 7 Chương 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN - CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng công tác bảo hộ lao động tại Công ty Tae Kwang Vina và những điều kiện lao động ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân.
Trên cơ sở đó đề xuất mội số giải pháp cải thiện điều kiện lao động nhằm bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho công nhân. Đối tượng nghiên cứu Những yếu tố của điều kiện lao động tại Công ty Tae Kwang Vina: người lao động, nhà xưởng, công trình vệ sinh, máy móc thiết bị, nguyên nhiên liệu,. Nội dung nghiên cứu Thực trạng công tác bảo hộ lao động tại Công ty. Tình hình huấn luyện công nhân tại Công ty.
Phân tích, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, có hại phát sinh trong quá trình sản xuất giày. Xây dựng các giải pháp cải thiện điều kiện lao động cho công nhân sản xuất giày tại Công ty. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp hồi cứu Hồi cứu những tư liệu có sẵn, các công trình khoa học khác phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài. Hồi cứu các số liêụ đo đạc môi trường lao động, kết quả khám sức khoẻ công nhân tại Công ty.
Phương pháp khảo sát thực tế Khảo sát điều kiện lao động của công nhân sản xuất giày. Khảo sát công tác bảo hộ lao động tại Công ty. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp Phỏng vấn ban lãnh đạo Công ty về công tác bảo hộ lao động và các nội dung liên quan đến sản xuất giày; Phỏng vấn công nhân trực tiếp tham gia sản xuất. Phương pháp đánh giá phân tích Trang 8 Phân tích đánh giá các số liệu thu được và thực trạng công tác bảo hộ lao động tại nhà máy.
Phương pháp chuyên gia Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 2. Bảo hộ lao động Bảo hộ lao động là hệ thống các biện pháp về pháp luật, kinh tế, xã hội, kỹ thuật, tổ chức và các biện pháp khác để bảo vệ sức khoẻ và khả năng lao động của công nhân trong quá trình lao động. Bảo hộ lao động bao gồm: chính sách về lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động.
Chính sách lao động: trong Luật lao động có quy định các chính sách lớn sau đây: việc làm, học nghề, hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, tiền lương, lao động nữ… An toàn lao động, vệ sinh lao động: các yêu cầu thực hiện chung thể hiện trong chương IX Bộ luật lao động. Điều kiện lao động Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, tổ chức, kỹ thuật, được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại giữa chúng trong mối quan hệ với người lao động. Yếu tố nguy hiểm Các yếu tố nguy hiểm là các yếu tố có thể tác động một cách đột ngột lên cơ thể người lao động, gây chấn thương hoặc tai nạn lao động. Yếu tố có hại Các yếu tố có hại là các yếu tố ảnh hưởng xấu lên sức khoẻ người lao động trong những điều kiện xác định có thể dẫn đến nhiễm bệnh (bệnh nghề nghiệp) và giảm khả năng lao động.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU Trong những năm qua Công đoàn Việt Nam đã có những quan tâm nhất nhất định đến ngành giày. Năm 2000, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã hợp tác với Tổng liên đoàn lao động Nauy, thực hiện: khảo sát điều kiện lao động và tình hình hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp liên doanh, tư nhân trong ngành dệt may và da giày tại thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng - Việt Nam. Kết quả cuộc khảo sát này đã thu được các kết quả sau: Tình trạng sống và làm việc của công nhân. Trang 9 Tình hình hoạt động của các tổ chức Công đoàn.
Các đặc trưng về môi trường làm việc. Bên cạnh đó, với mục tiêu hỗ trợ ngành da giày Việt Nam cải thiện môi trường và điều kiện làm việc cho công nhân, dự án Sáng kiết liên kết đã thành lập. Với Ban quản lý là đại diện của các cơ quan như: Phòng thương mại Bộ công nghiệp Việt Nam; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động; Hiệp hội da giày; Action Việt Nam, gồm các hoạt động chính như sau: Huấn luyện Chương trình thí điểm Nghiên cứu và thông tin Thanh tra giám sát Cam kết thực hiện tốt Hệ thống hỗ trợ quản lý Từ đó, các bên liên quan nghiên cứu, hỗ trợ soạn thảo các tài liệu phục vụ cho quản lý an toàn hoá chất. Như vậy, đã có những tài liệu nhất định liên quan trong công tác bảo hộ lao động của ngành da giày.
Song những tài liệu này chưa thể hiện được thực trạng công tác bảo hộ lao động trong ngành da giày. Trang 10 Chương 3 GIỚI THIỆU CÔNG TY TNHH TAE KWANG VINA 3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Công ty TNHH Tae Kwang Vina là Công ty 100% vốn đầu tư của Hàn Quốc và là thành viên của Công Ty công nghiệp Tae Kwang Hàn Quốc. Địa chỉ: số 8 Đường 9A Khu công nghiệp Biên Hoà 2.
Giấy phép thành lập số 910GP ngày 13-7-1994, thời gian hoạt động 50 năm. Sản phẩm chính là giày thể thao nhãn hiệu Nike. Công ty đã hoàn tất việc lắp đặt nhà xưởng, máy móc thiết bị vào ngày 30-4- 1995, khi mới vào hoạt động Công ty thực hiện việc quản lý sản xuất theo từng công đoạn. Từ ngày 15-3-2002 Công ty đã đầu tư để mở rộng sản xuất và thực hiện tổ chức quản lý sản xuất theo phương thức NOS (quản lý theo một trật tự mới nhằm loại bỏ các lãng phí).
Công suất hiện nay của nhà máy đạt khoảng 900.000 đôi/tháng (năm 2006). Công ty đang phấn đấu theo phương hướng: ”Công ty Tae Kwang Vina trở thành nhà máy sản xuất giày tầm cỡ quốc tế theo phương thức NOS”. Sau hơn 10 năm hình thành và phát triển Công ty đã đạt được một số thành tựu, đáng kể như: Chính phủ Việt Nam trao tặng giải thưởng số 0992/TDKT vào ngày 7-12- 2000 về thành tựu sản xuất và xuất khẩu.