Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (Mã số: 62 34 02 01) của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Phượng, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Hạ Thị Thiều Dao tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (năm 2017), nghiên cứu về đề tài: "Cảnh báo khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hơn bốn thập kỷ qua, các cuộc khủng hoảng tài chính (KHTC), khủng hoảng tiền tệ (KHTT) và khủng hoảng hệ thống ngân hàng (KHHTNH) đã để lại những tổn thất nghiêm trọng đối với nền kinh tế toàn cầu. Thống kê của Laeven & Valencia (2012) chỉ ra rằng giai đoạn 1970–2011 đã có 147 cuộc KHHTNH xảy ra trên phạm vi toàn thế giới với thiệt hại sản lượng bình quân lên đến 23% GDP và chi phí tài khóa xử lý khủng hoảng bình quân chiếm 6,8% GDP. KHTT cũng gây sụt giảm sản lượng từ 3% đến 15% GDP (Hutchison, Noy & Wang, 2010).
Tại Việt Nam, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và chịu ảnh hưởng từ KHTC toàn cầu 2008, nền kinh tế bộc lộ nhiều bất ổn vĩ mô:
- Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2002–2015 có chất lượng chưa cao, thể hiện qua hệ số ICOR duy trì ở mức cao: 4,88 (2002–2005), 6,96 (2006–2010) và 6,92 (2011–2015), cao hơn đáng kể so với Indonesia (3,86), Philippines (4,0), Malaysia (5,1) hay Lào (4,2).
- Áp lực lạm phát biến động mạnh, tăng vọt lên mức 23,12% vào năm 2008 và 18,68% vào năm 2011 sau những đợt nới lỏng chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng nóng (năm 2007 cung tiền M2 tăng 49,11%, tăng trưởng tín dụng đạt 50,18%).
- Dự trữ ngoại hối mỏng, năm 2015 chỉ đạt 28,3 tỷ USD, tương đương 1,9 tháng nhập khẩu (thấp hơn ngưỡng khuyến nghị tối thiểu 3 tháng).
- Thâm hụt ngân sách thường xuyên vượt ngưỡng 5% GDP (đạt đỉnh 6,9% GDP năm 2009); nợ nước ngoài/GNI dao động quanh mức 40%.
- Hệ thống ngân hàng thương mại (HTNH) đối mặt rủi ro thanh khoản cao khi tỷ lệ tín dụng/tổng tiền gửi vượt mức 1,2 trong giai đoạn 2010–2011; nợ xấu năm 2012 theo Cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng ước tính lên đến 10% (Fitch Ratings ước tính khoảng 15%), vượt ngưỡng 10% – mức xác định khủng hoảng theo tiêu chí của Demirgüç-Kunt & Detragiache (1998).
| Chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Việt Nam | 2002 | 2005 | 2007 | 2008 | 2009 | 2011 | 2013 | 2015 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tăng trưởng GDP (%) | 6,32 | 7,55 | 7,13 | 5,66 | 5,40 | 6,24 | 5,42 | 6,68 |
| Lạm phát (%) | 3,83 | 8,28 | 8,30 | 23,12 | 7,05 | 18,68 | 6,59 | 0,63 |
| Tăng trưởng M2 (%) | 13,27 | 30,91 | 49,11 | 20,70 | 26,23 | 11,94 | 21,40 | 14,91 |
| Tăng trưởng tín dụng (%) | 25,48 | 34,74 | 50,18 | 27,71 | 45,62 | 13,85 | 4,16 | 17,00 |
| Dự trữ ngoại hối (Tỷ USD) | 4,10 | 9,00 | 23,50 | 23,90 | 16,40 | 13,50 | 25,90 | 28,30 |
| Dự trữ ngoại hối (Số tháng nhập khẩu) | 2,20 | 2,60 | 4,10 | 3,20 | 2,60 | 1,40 | 2,20 | 1,90 |
| Thâm hụt ngân sách/GDP (%) | 4,96 | 4,86 | 6,00 | 4,58 | 6,90 | 4,90 | 6,60 | 6,00 |
| Cán cân thương mại/GDP (%) | -6,67 | -3,32 | -13,57 | -13,64 | -10,37 | -4,13 | 2,16 | -0,79 |
| Nợ nước ngoài/GNI (%) | 35,70 | 33,65 | 30,95 | 27,54 | 32,61 | 40,92 | 39,93 | 31,10 |
Về mặt học thuật, tác giả xác định các khoảng trống lớn:
- Các nghiên cứu quốc tế và trong nước trước đây chủ yếu áp dụng đơn lẻ mô hình Tín hiệu (Signal) hoặc Logit/Probit, chưa có công trình nào tích hợp đồng thời bốn cách tiếp cận: Signal, Logit/Probit, Bayesian Model Averaging (BMA) và Bình phương tối thiểu hai giai đoạn (2SLS).
- Chưa tính đến đầy đủ tác động đồng thời của KHTC toàn cầu 2008, hiện tượng đô la hóa và tính dễ tổn thương của khu vực ngân hàng (Banking Sector Fragility - BSF) đối với khả năng xảy ra KHTT.
- Chưa lượng hóa tác động của áp lực thị trường ngoại hối (Exchange Market Pressure - EMP) đối với khả năng xảy ra KHHTNH cũng như mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa KHTT và KHHTNH trong bối cảnh Việt Nam.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Luận án xác định 5 mục tiêu cụ thể:
- Xác định các giai đoạn KHTT tại Việt Nam.
- Xác định các giai đoạn KHHTNH tại Việt Nam.
- Xác định mối quan hệ nhân quả giữa KHTT và KHHTNH tại Việt Nam.
- Xác định các chỉ số cảnh báo sớm KHTT tại Việt Nam.
- Xác định các chỉ số cảnh báo sớm KHHTNH tại Việt Nam.
Tương ứng với 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Việt Nam đã xảy ra KHTT trong giai đoạn nào?
- Việt Nam đã xảy ra KHHTNH trong giai đoạn nào?
- Giữa KHTT và KHHTNH tại Việt Nam có tồn tại mối quan hệ nhân quả hay không?
- Các chỉ số kinh tế vĩ mô nào có khả năng cảnh báo sớm KHTT tại Việt Nam?
- Các chỉ số kinh tế vĩ mô nào có khả năng cảnh báo sớm KHHTNH tại Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống cảnh báo sớm KHTT và KHHTNH tại Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Nền kinh tế vĩ mô và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Mẫu nghiên cứu trong mẫu (in-sample) gồm dữ liệu chuỗi thời gian theo tháng từ tháng 01/2002 đến tháng 12/2015 (thời điểm 2002 được chọn do chuỗi dữ liệu chỉ số giá chứng khoán tổng hợp của Việt Nam bắt đầu có đầy đủ từ năm này). Giai đoạn ngoài mẫu (out-of-sample) từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2016 được sử dụng để kiểm định khả năng dự báo với cửa sổ cảnh báo 24 tháng cho giai đoạn 2017–2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các nhóm nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam theo từng cách tiếp cận:
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Mô hình Tín hiệu (Signal Approach): Được khởi xướng bởi Kaminsky, Lizondo & Reinhart (1998) và Kaminsky & Reinhart (1999). Phương pháp này được ứng dụng trong cảnh báo KHTT bởi Edison (2003), Megersa & Cassimon (2013); trong cảnh báo KHHTNH bởi Borio & Lowe (2002), Borio & Drehmann (2009), Alessi & Detken (2011), Drehmann & Juselius (2013), Drehmann & Tsatsaronis (2014); và cảnh báo đồng thời hai loại khủng hoảng bởi Goldstein, Kaminsky & Reinhart (2000), Sun & Huang (2016).
- Mô hình Hồi quy Logit/Probit: Ứng dụng trong cảnh báo KHTT qua các công trình của Berg & Pattillo (1999), Kamin, Schindler & Samuel (2001), Ari (2012), Rahman & Hasan (2014), Frost & Saiki (2014), Comelli (2016); trong cảnh báo KHHTNH qua các nghiên cứu của Demirgüç-Kunt & Detragiache (1998), Eichengreen & Rose (1998), Eichengreen & Arteta (2000), Singh (2011), Hmili & Bouraoui (2015), Tamadonejad & ctg (2016), Papadopoulos, Stavroulias & Sager (2016); và cảnh báo kết hợp bởi Glick & Hutchison (1999), Yiu, Ho & Jin (2009), Falcetti & Tudela (2008), Frankel & Saravelos (2012).
- Các phương pháp hiện đại khác:
- Bayesian Model Averaging (BMA): Crespo-Cuaresma & Slacik (2009), Hosni (2014), Babecký & ctg (2014) nhằm khắc phục tính không chắc chắn của mô hình.
- Bình phương tối thiểu hai giai đoạn (2SLS): Dreher, Herz & Karb (2005), Dapontas (2011) nhằm kiểm soát hiện tượng nội sinh và mối liên hệ đồng thời.
- Markov-Switching: Martinez-Peria (2002), Abiad (2003), Ho (2004).
- Mạng nơ-ron nhân tạo (ANNs) và Neuro-Fuzzy: Franck & Schmied (2003), Roy (2009), Sekmen & Kurkcu (2014), Lin & ctg (2006).
- Nghiên cứu kết hợp hai phương pháp: Comelli (2013), Modekurti (2015), Davis & Karim (2008b), Lainà, Nyholm & Sarlin (2014), Asanović (2013), ADB (2005), Giovanis (2012).
Các nghiên cứu tại Việt Nam
Các công trình trong nước đã bắt đầu tiếp cận chủ đề này từ sau năm 2008:
- Cảnh báo KHTT: Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2010), Nguyễn Phi Lân (2011), Nguyễn Việt Hùng & Hà Quỳnh Hoa (2011), Pham (2015), Lê Thị Thùy Vân (2015), Võ Thị Thúy Anh & ctg (2016), Nguyen & Nguyen (2017).
- Cảnh báo KHTT và KHHTNH: Nguyễn Thị Kim Thanh (2008), Ngô Thị Thu Trà & ctg (2016).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các nghiên cứu tại Việt Nam trước đó chưa kết hợp tỷ giá thực đa phương, chỉ số giá chứng khoán tổng hợp, chưa kiểm định tác động của KHTC toàn cầu 2008, chưa áp dụng BMA và 2SLS, chưa tích hợp đồng thời 4 mô hình (Signal, Logit/Probit, BMA, 2SLS), và chưa xem xét quan hệ nhân quả hai chiều giữa sự tổn thương ngân hàng và áp lực ngoại hối. Luận án định vị là công trình giải quyết trọn vẹn các khoảng trống phương pháp và thực nghiệm này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên lý thuyết về khủng hoảng tài chính và hệ thống hóa 4 thế hệ mô hình KHTT:
- Thế hệ thứ nhất (Krugman, 1979; Flood & Garber, 1984): Khủng hoảng bắt nguồn từ sự không nhất quán giữa chính sách vĩ mô (thâm hụt ngân sách triền miên được tài trợ bằng phát hành tiền) với việc duy trì tỷ giá cố định, dẫn đến cạn kiệt dự trữ ngoại hối và sụp đổ tỷ giá.
- Thế hệ thứ hai (Obstfeld, 1994, 1996): Khủng hoảng mang tính tự phát sinh (self-fulfilling), xuất phát từ kỳ vọng của thị trường, hành vi bầy đàn và sự đánh đổi của chính phủ giữa chi phí bảo vệ tỷ giá (lãi suất cao, thất nghiệp) với việc phá giá tiền tệ.
- Thế hệ thứ ba (Yoshitomi & Ohno, 1999; Kaminsky & Reinhart, 1999; Chang & Velasco, 1998): Tập trung vào tự do hóa tài khoản vốn không hợp lý, bùng nổ tín dụng, bong bóng giá tài sản và sự bất cân xứng kỳ hạn/đồng tiền trên bảng cân đối tài sản của hệ thống ngân hàng, dẫn đến khủng hoảng kép (twin crises).
- Thế hệ thứ tư (Breuer, 2004): Bổ sung các yếu tố thể chế (khung pháp lý, chất lượng quản trị, tham nhũng, giám sát tài chính) kết hợp với các biến số vĩ mô và tâm lý thị trường.
| Đặc trưng mô hình KHTT | Thế hệ 1 | Thế hệ 2 | Thế hệ 3 | Thế hệ 4 |
|---|---|---|---|---|
| Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém | x | x | x | |
| Tấn công đầu cơ tiền tệ | x | x | x | x |
| Dự trữ ngoại hối thấp | x | x | x | |
| Kỳ vọng thị trường / Hành vi bầy đàn | x | x | x | |
| Tính lan truyền | x | x | x | |
| Chính phủ từ bỏ bảo vệ tỷ giá vì mục tiêu vĩ mô | x | x | ||
| Chảy máu ngoại tệ / Rút vốn đột ngột | x | x | ||
| Khủng hoảng hệ thống ngân hàng đi kèm | x | x | ||
| Yếu tố thể chế yếu kém | x |
Về định nghĩa KHHTNH, luận án kế thừa quan điểm của Friedman & Schwartz (1963), Demirgüç-Kunt & Detragiache (1998), Ergüngör & Thomson (2005) và Laeven & Valencia (2012), xác định khủng hoảng khi xuất hiện tỷ lệ nợ xấu vượt 10%, có sự can thiệp quy mô lớn của nhà nước hoặc xuất hiện các đợt đóng băng thanh khoản, sáp nhập/hợp nhất bắt buộc.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án áp dụng hoàn toàn phương pháp nghiên cứu định lượng với quy trình kỹ thuật:
- Xác định các giai đoạn KHTT: Sử dụng chỉ số áp lực thị trường ngoại hối (EMP): $$EMP_t = \frac{\Delta e_t}{e_t} - \frac{\sigma_e}{\sigma_r} \frac{\Delta r_t}{r_t} + \frac{\sigma_e}{\sigma_i} \Delta i_t$$ Trong đó $e_t$ là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, $r_t$ là dự trữ ngoại hối, $i_t$ là lãi suất; $\sigma$ là độ lệch chuẩn tương ứng. Kỳ khủng hoảng được xác định khi $EMP_t$ vượt ngưỡng giá trị trung bình cộng 2 lần độ lệch chuẩn ($\mu_{EMP} + 2\sigma_{EMP}$).
- Xác định các giai đoạn KHHTNH: Sử dụng chỉ số dễ tổn thương khu vực ngân hàng (BSF) dựa trên mức độ biến động của tiền gửi và tín dụng, kết hợp phương pháp sự kiện (tái cơ cấu ngân hàng theo Quyết định 254/QĐ-TTg, thành lập VAMC, các thương vụ sáp nhập bắt buộc).
- Kiểm định mối quan hệ nhân quả: Kiểm định tính dừng (nghiệm đơn vị ADF, PP), lựa chọn độ trễ tối ưu, kiểm định tính ổn định của mô hình VAR và thực hiện kiểm định nhân quả Granger (Pairwise Granger Causality và VAR Granger Causality/Block Exogeneity Wald Tests).
- Tích hợp 4 mô hình cảnh báo sớm (cửa sổ cảnh báo 24 tháng):
- Mô hình Signal: Xác định ngưỡng tối ưu bằng cách cực tiểu hóa tỷ lệ nhiễu tín hiệu (Noise-to-Signal Ratio - NSR), tính toán chỉ số cảnh báo tổng hợp và chuỗi xác suất có điều kiện.
- Mô hình Probit: Ước lượng hợp lý cực đại, kiểm định mức độ phù hợp Hosmer-Lemeshow, đánh giá tỷ lệ dự báo đúng.
- Phương pháp BMA: Đánh giá độ không chắc chắn của mô hình, tính toán xác suất hậu nghiệm thu nhận biến (Posterior Inclusion Probability - PIP) dựa trên 100 mô hình tốt nhất.
- Phương pháp 2SLS: Ước lượng hệ phương trình đồng thời hai giai đoạn để xử lý hiện tượng tác động qua lại nội sinh giữa EMP và BSF.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp theo tháng (01/2002 – 12/2015) được thu thập từ:
- Thống kê Tài chính Quốc tế (IFS) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
- Chỉ số Phát triển Thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế giới (World Bank).
- Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
- Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Bộ Tài chính và Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập bối cảnh thực tiễn và học thuật của đề tài. Tác giả phân tích chi tiết thực trạng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2002–2015 với các dữ liệu thực tế về tăng trưởng, lạm phát, cung tiền, thâm hụt ngân sách, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và các tồn tại trong hệ thống ngân hàng (nợ xấu, tỷ lệ an toàn vốn theo Basel I thấp so với các nước trong khu vực áp dụng Basel II/III, hạn mức bảo hiểm tiền gửi 50 triệu đồng quá thấp). Chương này xác định rõ 5 mục tiêu, 5 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi thời gian (trong mẫu 2002–2015, ngoài mẫu 2016), phương pháp định lượng và quy trình nghiên cứu 6 bước.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về cảnh báo khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng
Chương 2 thực hiện tổng quan có hệ thống:
- Khái niệm, bản chất của KHTC, KHTT và KHHTNH.
- Phân tích sâu 4 thế hệ mô hình KHTT và cơ chế phát sinh KHHTNH theo Minsky (1986), Friedman & Schwartz (1963).
- Cơ chế tác động vòng xoáy của khủng hoảng kép: BSF tác động làm suy yếu tỷ giá, và áp lực ngoại hối EMP làm tổn thương bảng cân đối tài sản ngân hàng.
- Trình bày 7 cách tiếp cận kỹ thuật trong cảnh báo sớm (Signal, Logit/Probit, BMA, 2SLS, Markov Switching, ANNs, Neuro-Fuzzy) và phân tích ưu/nhược điểm của từng phương pháp.
- Tổng kết toàn diện các công trình thực nghiệm quốc tế và trong nước, chỉ rõ sự thiếu vắng của việc tích hợp 4 phương pháp Signal, Logit/Probit, BMA và 2SLS.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Chương 3 xây dựng khung phân tích thực nghiệm chi tiết:
- Quy trình chuẩn hóa công thức tính chỉ số EMP cho KHTT và chỉ số BSF kết hợp phương pháp sự kiện cho KHHTNH tại Việt Nam.
- Thiết lập danh mục các biến số cảnh báo tiềm năng gồm nhóm chỉ số kinh tế trong nước (cung tiền M2, tín dụng nội địa, tiền gửi ngân hàng, lãi suất thực, lạm phát, cán cân thương mại, xuất khẩu, nhập khẩu, sản lượng công nghiệp, chỉ số chứng khoán, mức độ đô la hóa FCD/M2, tỷ lệ cho vay/tiền gửi LDR, tỷ giá thực đa phương REER, chênh lệch lãi suất) và biến số toàn cầu (cú sốc KHTC 2008).
- Thiết lập mô hình VAR kiểm định quan hệ nhân quả Granger giữa EMP và BSF.
- Trình bày các bước ước lượng cụ thể cho 4 mô hình: ma trận tín hiệu và tỷ lệ NSR trong mô hình Signal; hàm hợp lý cực đại và kiểm định Hosmer-Lemeshow trong Probit; phân phối xác suất hậu nghiệm trong BMA; hệ phương trình đồng thời trong 2SLS.
- Bảng thống kê mô tả dữ liệu gốc của các biến chuỗi thời gian giai đoạn 2002–2015.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 công bố toàn bộ kết quả thực nghiệm:
- Xác định các giai đoạn khủng hoảng:
- Chỉ số EMP xác định Việt Nam xảy ra các cuộc KHTT ngắn hạn trong giai đoạn 2008–2011 (đặc biệt các đợt căng thẳng tỷ giá năm 2008, 2009, 2010 và 2011).
- Chỉ số BSF kết hợp phương pháp sự kiện xác định Việt Nam xảy ra KHHTNH trong 2 giai đoạn: từ tháng 01/2009 đến tháng 05/2009 và từ tháng 05/2011 đến tháng 12/2015.
- Kiểm định mối quan hệ nhân quả:
- Kiểm định Pairwise Granger Causality và VAR Granger Causality/Block Exogeneity Wald Tests khẳng định tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa KHTT (đại diện bởi EMP) và KHHTNH (đại diện bởi BSF).
- Hiệu suất cảnh báo qua 4 cách tiếp cận:
- Mô hình Signal: Xác định ngưỡng tối ưu và tỷ lệ nhiễu/tín hiệu (NSR) cho từng biến cảnh báo KHTT và KHHTNH.
- Mô hình Probit: Kiểm định tỷ lệ dự báo đúng đạt mức cao, kiểm định Hosmer-Lemeshow khẳng định mô hình phù hợp với dữ liệu thực tế.
- Mô hình BMA: Chọn lọc các biến có xác suất hậu nghiệm thu nhận (PIP) cao nhất qua 100 mô hình tốt nhất.
- Mô hình 2SLS: Ước lượng hệ phương trình đồng thời xác nhận tác động tương hỗ có ý nghĩa thống kê giữa hai khối thị trường.
- Tổng hợp biến số cảnh báo đạt hiệu suất cao:
- 11 biến cảnh báo KHTT: Chỉ số giá chứng khoán tổng hợp, tỷ giá thực đa phương, xuất khẩu, M2/dự trữ ngoại hối, tiền gửi ngân hàng, dự trữ ngoại hối, số nhân cung tiền M2, chỉ số BSF, chênh lệch lãi suất trong nước so với nước ngoài, hiện tượng đô la hóa (FCD/M2), tác động của KHTC toàn cầu 2008.
- 15 biến cảnh báo KHHTNH: Chỉ số giá chứng khoán tổng hợp, tỷ giá thực đa phương, xuất khẩu, M2/dự trữ ngoại hối, tiền gửi ngân hàng, dự trữ ngoại hối, số nhân cung tiền M2, tín dụng nội địa/GDP, lạm phát, lãi suất thực, chỉ số EMP, sản lượng công nghiệp, nhập khẩu, tỷ lệ cho vay/tổng tiền gửi ngân hàng (LDR), tác động của KHTC toàn cầu 2008.
- 8 biến số cảnh báo chung cho cả hai loại khủng hoảng: Chỉ số giá chứng khoán tổng hợp, tỷ giá thực đa phương, xuất khẩu, M2/dự trữ ngoại hối, tiền gửi ngân hàng, dự trữ ngoại hối, số nhân cung tiền M2 và tác động của KHTC toàn cầu 2008.
- Dự báo xác suất:
- Xác suất cảnh báo trong mẫu (2014–2015): Dao động từ 0 đến 0,46 đối với KHTT và từ 0,1 đến 0,46 đối với KHHTNH.
- Xác suất ngoài mẫu (01/2016 – 12/2016): Dao động từ 0,1 đến 0,33 đối với KHTT và từ 0,1 đến 0,40 đối với KHHTNH.
- Kết luận dự báo: Nguy cơ xảy ra KHTT và KHHTNH tại Việt Nam giai đoạn 2017–2018 ở mức trung bình thấp.
| Nhóm biến số cảnh báo sớm | Cảnh báo KHTT (11 biến) | Cảnh báo KHHTNH (15 biến) | Cảnh báo chung cả 2 loại (8 biến) |
|---|---|---|---|
| Chỉ số giá chứng khoán tổng hợp (sụt giảm) | x | x | x |
| Tỷ giá thực đa phương REER (sụt giảm) | x | x | x |
| Tăng trưởng xuất khẩu (sụt giảm) | x | x | x |
| Cung tiền M2 / Dự trữ ngoại hối (gia tăng) | x | x | x |
| Tăng trưởng tiền gửi ngân hàng (sụt giảm) | x | x | x |
| Quy mô dự trữ ngoại hối (sụt giảm) | x | x | x |
| Số nhân cung tiền M2 (gia tăng) | x | x | x |
| Tác động KHTC toàn cầu 2008 (cú sốc) | x | x | x |
| Chỉ số dễ tổn thương ngân hàng BSF (gia tăng) | x | ||
| Chênh lệch lãi suất trong nước - quốc tế | x | ||
| Tỷ lệ đô la hóa FCD/M2 (gia tăng) | x | ||
| Tín dụng nội địa / GDP (tăng trưởng nóng) | x | ||
| Tỷ lệ lạm phát (gia tăng) | x | ||
| Lãi suất thực (gia tăng) | x | ||
| Chỉ số áp lực ngoại hối EMP (gia tăng) | x | ||
| Tăng trưởng sản lượng công nghiệp (sụt giảm) | x | ||
| Tăng trưởng nhập khẩu (gia tăng) | x | ||
| Tỷ lệ cho vay / Tiền gửi LDR (gia tăng) | x |
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 tổng kết toàn bộ các phát hiện nghiên cứu, đối chiếu với các giả thuyết ban đầu và đề xuất các nhóm giải pháp chính sách:
- Tăng cường công tác cảnh báo sớm KHTT và KHHTNH dựa trên theo dõi chuỗi xác suất và các biến số nhạy cảm.
- 10 nhóm hàm ý điều hành kinh tế vĩ mô: (1) Điều hành tỷ giá linh hoạt; (2) Kiểm soát cung tiền; (3) Tăng cường quy mô dự trữ ngoại hối; (4) Kiểm soát tăng trưởng tín dụng; (5) Kiểm soát lạm phát; (6) Phát triển thị trường chứng khoán lành mạnh; (7) Phát triển xuất khẩu bền vững và quản lý nhập khẩu; (8) Tăng cường huy động tiền gửi và hạn chế rủi ro rút tiền đột biến; (9) Tiếp tục khắc phục tình trạng đô la hóa; (10) Nâng cao năng lực thanh tra, giám sát an toàn vi mô và vĩ mô hệ thống ngân hàng.
- Định hướng hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm trong tương lai.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật
- Bổ sung bằng chứng thực nghiệm khẳng định tác động rõ rệt của hiện tượng đô la hóa nền kinh tế đối với nguy cơ bùng phát KHTT tại các quốc gia mới nổi quy mô nhỏ, có độ mở lớn như Việt Nam.
- Chứng minh thực nghiệm tác động lan truyền mạnh mẽ từ KHTC toàn cầu 2008 đến sự gia tăng xác suất KHTT và KHHTNH ở các thị trường mới nổi.
- Củng cố lý thuyết về mối liên kết hai chiều giữa hai cấu phần tài chính: tính dễ tổn thương trong khu vực ngân hàng (BSF) gây áp lực làm căng thẳng tỷ giá dẫn đến KHTT; ngược lại, áp lực trên thị trường ngoại hối (EMP) làm gia tăng nguy cơ KHHTNH.
- Chứng minh rằng việc tích hợp đồng thời bốn cách tiếp cận (Signal, Logit/Probit, BMA, 2SLS) giúp khắc phục triệt để các nhược điểm cố hữu của từng phương pháp đơn lẻ (như độ nhạy với điểm cắt của Signal, tính không chắc chắn mô hình của Probit, hay hiện tượng nội sinh), tối ưu hóa độ chính xác của hệ thống cảnh báo sớm.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Xác định chính xác các mốc thời gian khủng hoảng thực tế tại Việt Nam: KHTT ngắn hạn giai đoạn 2008–2011; KHHTNH trong hai giai đoạn tháng 01/2009 – tháng 05/2009 và tháng 05/2011 – tháng 12/2015.
- Lập danh mục định lượng 11 biến số cảnh báo KHTT, 15 biến số cảnh báo KHHTNH và đặc biệt là 8 biến số chỉ báo chung đạt hiệu suất cảnh báo cao cho cả hai loại khủng hoảng tại Việt Nam.
- Tính toán thành công chuỗi xác suất cảnh báo sớm trong mẫu (2002–2015) và ngoài mẫu (2016), đưa ra dự báo xác suất xảy ra KHTT và KHHTNH giai đoạn 2017–2018 tại Việt Nam ở mức trung bình thấp.
- Xây dựng hệ thống giải pháp chính sách điều hành vĩ mô và tiền tệ có cơ sở định lượng rõ ràng nhằm kiểm soát các biến số vĩ mô nhạy cảm, ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng kép.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Chuỗi số liệu một số chỉ tiêu tài chính vĩ mô của Việt Nam trước năm 2002 chưa đồng bộ (đặc biệt là chỉ số thị trường chứng khoán), dẫn đến độ dài chuỗi thời gian nghiên cứu bị giới hạn từ năm 2002 đến năm 2015.
- Chưa lượng hóa được đầy đủ các biến số thể chế thuộc mô hình thế hệ thứ tư (chất lượng thể chế, tham nhũng, mức độ hoàn thiện khung pháp lý) và các yếu tố tâm lý hành vi thị trường do thiếu hụt nguồn dữ liệu chuỗi thời gian chuẩn hóa tại Việt Nam.
- Số liệu về tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011–2015 có sự chênh lệch lớn giữa số liệu báo cáo chính thức và số liệu đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm/thanh tra, một phần do việc chuyển giao nợ xấu sang VAMC chưa được xử lý dứt điểm về mặt bản chất.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng khung phân tích bằng cách xây dựng các chỉ số định lượng đo lường biến số thể chế và quản trị công theo mô hình KHTT thế hệ thứ tư khi dữ liệu được cập nhật đầy đủ hơn.
- Ứng dụng và so sánh thêm với các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo phi tuyến tính nâng cao (ANNs, Neuro-Fuzzy kết hợp giải thuật tối ưu) khi chuỗi dữ liệu lịch sử của thị trường tài chính Việt Nam tích lũy đủ dài.
- Tiếp tục cập nhật và kiểm định chuỗi xác suất ngoài mẫu theo các chu kỳ kinh tế mới và đánh giá tác động khi hệ thống ngân hàng áp dụng toàn diện các chuẩn mực Basel II và Basel III.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu:
- Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia): Cung cấp mô hình định lượng và hệ thống chỉ số cụ thể để thiết lập bộ công cụ giám sát, cảnh báo sớm rủi ro tiền tệ và rủi ro đổ vỡ ngân hàng theo thời gian thực; hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá và dự trữ ngoại hối chủ động.
- Đối với các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính: Cung cấp khung đánh giá rủi ro thanh khoản vĩ mô, biến động tiền gửi và lãi suất để xây dựng chiến lược quản trị bảng cân đối tài sản, kiểm soát tỷ lệ cấp tín dụng trên huy động (LDR) và dự phòng nợ xấu.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Là tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu định lượng phức hợp, đặc biệt là quy trình kỹ thuật tích hợp 4 mô hình (Signal, Probit, BMA, 2SLS) trong kinh tế lượng ứng dụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định các giai đoạn xảy ra khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam là những khoảng thời gian nào?
Dựa trên chỉ số EMP, luận án xác định Việt Nam xảy ra các cuộc KHTT ngắn hạn trong giai đoạn 2008–2011. Dựa trên chỉ số BSF kết hợp phương pháp sự kiện, luận án xác định Việt Nam xảy ra KHHTNH trong hai giai đoạn: từ tháng 01/2009 đến tháng 05/2009 và từ tháng 05/2011 đến tháng 12/2015.
2. Mối quan hệ giữa khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam được kết luận như thế nào?
Kết quả kiểm định nhân quả Granger qua mô hình VAR khẳng định giữa KHTT và KHHTNH tại Việt Nam tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều: sự gia tăng chỉ số áp lực thị trường ngoại hối (EMP) tác động làm tăng khả năng xảy ra KHHTNH, và sự gia tăng tính dễ tổn thương của khu vực ngân hàng (BSF) tác động mạnh làm gia tăng khả năng xảy ra KHTT.
3. Tám biến số kinh tế vĩ mô nào có khả năng đồng thời cảnh báo sớm cả hai loại khủng hoảng?
8 biến số đạt hiệu suất cao trong cảnh báo đồng thời cả KHTT và KHHTNH gồm:
- Chỉ số giá chứng khoán tổng hợp (VN-Index)
- Tỷ giá thực đa phương (REER)
- Tăng trưởng xuất khẩu
- Tỷ lệ cung tiền M2 / Dự trữ ngoại hối
- Tăng trưởng tiền gửi ngân hàng
- Quy mô dự trữ ngoại hối
- Số nhân cung tiền M2
- Tác động của KHTC toàn cầu 2008
4. Luận án tích hợp những cách tiếp cận nào để xây dựng hệ thống cảnh báo sớm?
Luận án tích hợp đồng thời bốn cách tiếp cận:
- Mô hình Tín hiệu (Signal Approach)
- Mô hình hồi quy xác suất Probit (Logit/Probit)
- Phương pháp chọn mẫu mô hình Bayes (Bayesian Model Averaging - BMA)
- Phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu hai giai đoạn (2SLS)
5. Kết quả dự báo xác suất xảy ra khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2017–2018 là bao nhiêu?
Dựa trên chuỗi xác suất trong mẫu giai đoạn 2014–2015 (KHTT: 0 – 0,46; KHHTNH: 0,1 – 0,46) và chuỗi xác suất ngoài mẫu giai đoạn tháng 01/2016 – tháng 12/2016 (KHTT: 0,1 – 0,33; KHHTNH: 0,1 – 0,40) với cửa sổ cảnh báo 24 tháng, luận án dự báo khả năng xảy ra KHTT và KHHTNH tại Việt Nam trong giai đoạn 2017–2018 ở mức trung bình thấp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Phượng đã xây dựng hệ thống cảnh báo sớm khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam thông qua việc tích hợp bốn phương pháp Signal, Probit, BMA và 2SLS trên chuỗi dữ liệu tháng giai đoạn 2002–2015. Nghiên cứu đã xác định các giai đoạn khủng hoảng thực tế, chứng minh mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa thị trường ngoại hối và khu vực ngân hàng, đồng thời sàng lọc được 11 biến cảnh báo KHTT, 15 biến cảnh báo KHHTNH và 8 biến cảnh báo chung. Kết quả dự báo xác suất cho giai đoạn 2017–2018 ở mức trung bình thấp, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và hệ thống hàm ý chính sách điều hành vĩ mô cho Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý.