CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÈ CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU Ầ 1 1 r 1 Ằ 1. Lý luận chung vê chính sách kích câu Trong ngắn hạn, nền kinh tế có thể chịu tác động của những cú sốc cung hay cú sốc cầu. Nếu là cú sốc cầu sẽ có hai khả năng xảy ra. Thứ nhất, tổng cầu (AD - Aggregate Demand) tăng quá mức và vượt quá sản lượng tiềm năng, nền kinh tế ở trạng thái “nóng.
Thứ hai, tổng cầu sụt giảm quá mức xuống dưới mức sản lượng tiềm năng, nền kinh tế rơi vào suy thoái.1: Các củ sốc cầu của nền kinh tế về lý thuyết, khi nền kinh tế gặp cú sốc làm tổng cầu tăng quá mức, sản lượng vượt quá mức sản lượng tiềm năng nền kinh tế sẽ đối mặt với tình trạng lạm phát cao. Khi đó chính phủ cần có chính sách cắt giảm tổng cầu.4: Các chỉnh sách điều tiết tổng cầu nhằm ổn định nền kinh tế Ngược lại, khi nền kinh tế gặp phải cú sốc làm tổng cầu sụt giảm quá mức sẽ gây ra hiện tượng hàng hoá dư thừa, tồn kho tăng. Các doanh nghiệp buộc phải hạ mức sản xuất và cắt giảm nhân công khiến cho thu nhập giảm, thất nghiệp tăng, giá cả giảm. Khi đó chính phủ có thể thực hiện chính sách kích thích nhằm nâng cao tổng cầu và các nhà kinh tế thường gọi đó là chính sách kích cầu.
AD = c + I + G + NX Trong đó: 4- c (Consumption): Chi tiêu của các hộ gia đình, 4- I (Investment): Đầu tư của các doanh nghiệp, 4 G (Government Purchase): Chi tiêu mua hàng hoá và dịch vụ của chính phũ, iv 4- NX (Net Export): Xuất khẩu ròng với NX = X - M, trong đó, X (Export) là xuất khẩu và M (Import) là nhập khẩu. Để tăng tổng cầu chính phủ cần thực hiện chính sách nhằm tác động vào các thành tố của tổng cầu. Cụ thể, các chính sách có thể thực hiện là: * Chính sách tài khoá: Chính sách tài khoá có hai công cụ là chi tiêu chính phủ hoặc thuế. Thông qua việc tăng chi tiêu hoặc giảm thuế chính phủ có thể kích được cầu và làm tăng sản lượng của nền kinh tế.
* Chính sách tiền tê: Để kích cầu ngân hàng Trung ương áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng bằng việc tăng lượng cung tiền hoặc giảm lãi suất. Kết quả là lãi suất trong nền kinh tế giảm nên có thể kích cầu đầu tư và tiêu dùng. * Phối hợp chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ : Chính sách tài khoá với thuế và chi tiêu chính phủ có thể kích được cầu song nó cũng làm tăng lãi suất nên làm giảm bớt một phần đầu tư và tổng cầu. Việc kết hợp chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ mở rộng có thể hạn chế được hiện tượng này.
* Chính sách ty ỉỉiá hối đoái: về mặt lý thuyết, chính phủ cũng có thể kích cầu thông qua thông qua kênh xuất khẩu ròng. Bằng việc tiến hành phá giá đồng nội tệ sẽ làm giảm giá hàng xuất khẩu đồng thời làm tăng giá hàng nhập khẩu nên sẽ khuyến khích V xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Song trên thực tế, chính sách này thường ít được sử dụng * Các chỉnh sách hỗ trợ khác: Cải cách nền kinh tế, cải cách thủ tục hành chính, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ thông tin, tìm kiếm thị trường, Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, chính sách kích cầu cũng có thể dẫn đến những hệ luỵ như mất cân bằng các cân đối vĩ mô, thâm hụt ngân sách, nợ chính phủ, lạm phát,.Ngoài ra, nếu nhà nước can thiệp quá sâu vào nền kinh tế có thể triệt tiêu tính cạnh tranh của nền kinh tế thị trường dẫn đến sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Bài học kinh nghiệm về chính sách kích cầu Chúng ta sẽ nghiên cứu chính sách kích cầu của 3 nước sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Châu Á năm 1997, đó là Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc.
Nhật Bản được xem là trường hợp đặc biệt vì suy thoái kinh tế ở nước này diễn ra trong một thời gian dài và chủ yếu là do những nhân tố bên trong. Chính phủ Nhật đã thực hiện rất nhiều gói kích cầu song vẫn không mang lại hiệu quả. Nguyên nhân chính sách kích cầu của Nhật không hiệu quả là: Một là do không gian hẹp trong việc lựa chọn chính sách. Chính phủ phải đối mặt với nợ công cao, thâm hụt ngân sách và lãi suất danh nghĩa gần bằng 0 nên rất khó thực hiện chính sách tài khoá mở rộng.
Hai là sự thua lỗ của một số ngân hàng lớn và các vụ phá sản trong các năm 1997 - 1998 đã làm giảm niềm tin của khu vực tư nhân. vi Ba là chính sách tài khoá thực thi không hiệu quả. Qua những thất bại của Nhật Bản có thể rút ra đi cùng với việc thực hiện các biện pháp kích cầu, cần xây dụng hệ thống tài chính, ngân hàng lành mạnh và an toàn. Thái Lan là nước chịu tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng.
Chính phủ Thái Lan cũng đã thực hiện các biện pháp kích cầu nhưng nền kinh tế vẫn không hồi phục. Nguyên nhân thất bại của chính sách kích cầu của Thái Lan là: Thứ nhất, những nỗ lực của chính phủ nhằm thúc đẩy đầu tư tư nhân đã không được ngân hàng và doanh nghiệp hưởng ứng. Thứ hai, do sức ép dòng vốn chảy ra và sự bất ổn của tỷ giá hối đoái nên chính phủ Thái Lan không thể nới lỏng tiền tệ, trái lại còn phải tăng lãi suất vào năm 2001. Chính sách này đã làm giảm nỗ lực kích cầu.
Thứ ba, thu nhập giảm kéo theo tiêu dùng giảm. Thứ tư, gói kích cầu được lập ra nhưng không thực hiện theo kế hoạch do giải ngân chậm. Hơn nữa, nhiều khoản chi tiêu là cho cải cách hệ thống tài chính nên phần chi thực sự cho kích cầu bị hạn chế. Tóm lại, các biện pháp kích cầu của Thái Lan không khôi phục được cầu trong nước là do bất ổn kinh tế vĩ mô, yếu kém của hệ thống tài chính và doanh nghiệp.
Điều đó không cho phép Thái Lan nới lỏng tiền tệ và tăng chi tiêu chính phủ. Trung Quốc được xem là một điển hình về thực hiện chính sách kích cầu thành công. Kinh tế Trung Quốc chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và cuộc khủng hoảng tài chính khu vực đi cùng với đó là cải cách vii các doanh nghiệp nhà nước nhưng Trung Quốc vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Sự phát triển của Trung Quốc được xem là một “hiện tượng” trong giai đoạn 1999 - 2000.
Nó cho thấy chính sách kích cầu của Trung Quốc đã đem lại hiệu quả và đó có thể là bài học cho các nước khác. Thành công ấy có thể được lý giải bởi: Kinh tế vĩ mô trước và sau khi thực hiện chính sách kích cầu đều rất tốt, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ngân sách chính phủ lành mạnh. Trung Quốc không lạm dụng chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Chính sách tài khoá của Trung Quốc thực thi rất hiệu quả.
Cải cách doanh nghiệp nhà nước nhất là các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả giúp chính phủ giảm được gánh nặng ngân sách hàng năm phải bù lỗ cho các doanh nghiệp đó. Thời điểm đó, sự kiện Trung Quốc sắp trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới đã làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư và người dân vào triển vọng kinh tế Trung Quốc. Kết quả là họ tăng đầu tư và tiêu dùng. So với Nhật Bản và Thái Lan, Trung Quốc đã thành công hơn trong kích cầu do đã thực hiện kích cầu cùng với cải cách cơ cấu mạnh mẽ.
Chính sách mở rộng tài khóa đồng thời cùng việc cải cách cơ cấu không những phù hợp với tình hình kinh tế thực tế ở Trung Quốc mà nó còn cho phép liên kết tác động của chính sách ngắn hạn với tác động của chính sách dài hạn giúp bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững. viii CHƯƠNG 2: THựC TIỄN CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2. Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay chấn động của nền kinh tế Mỹ đã nhanh chóng lan tới và tác động đến nền kinh tế Việt Nam. Dưới đây là một số tác động chính: Tăng trưởng kinh tế'.
Tăng trưởng kinh tế năm 2008 chỉ đạt 6,18% so với 8,48% năm 2007, thấp hơn nhiều so với kế hoạch đã điều chỉnh là 7%. Tăng trưởng công nghiệp và xây dựng giảm nhiều nhất, từ 10,6% năm 2007 xuống còn 6,33% năm 2008. Lĩnh vực dịch vụ cũng tăng chậm lại từ 8,68% năm 2007 xuống 7,2% năm 2008.1: Tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp theo tháng năm 2008 so vởi cùng kỳ năm 2007 (đv: %) Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2008 - 2009: Nam và thế giới, tr.33 ix Tiêu dùng dân cư: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong năm 2008 tăng 31% so với năm 2007 nhưng chủ yếu tăng do giá. Nếu loại trừ yếu tố giá, thực tế tiêu dùng của người dân chỉ tăng 6,53%, thấp nhất kể từ năm 2000 đến nay, chỉ bằng hom một nửa tốc độ tăng bình quân năm (12,7%/năm) giai đoạn 2001 - 2007.2: Tắc độ tăng tổng mức bán lẻ theo tháng năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007 Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2008 - 2009: Nam và thế giới, tr.48 Hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Năm 2008, vốn FDI đăng ký khoảng 64 tỷ USD song tỷ lệ thực hiện chỉ đạt 19,1%, mức thấp nhất trong 8 năm trở lại đây.
Tính đến tháng 1/2009, FDI đăng ký chỉ đạt khoảng 200 triệu USD giảm 87,8% so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thực hiện cũng chỉ bằng 70%. Hoạt động xuất khẩu: về kim ngạch, mặc dù kim ngạch xuất khẩu cả năm 2008 đạt 62,909 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007 nhưng kim ngạch xuất khẩu lại giảm dần trong những tháng cuối năm 2008. Kim ngạch xuất X khẩu quý 1/2009 đạt khoảng 13,5 tỷ USD, chỉ tăng 2,4% so với cùng kỳ năm ngoái và thấp hơn nhiều so với mức tăng 22,7% vào quý 1/2008. về thị trường, ba thị trường xuất khẩu chính (chiếm tới 60% kim ngạch) là Mỹ, EƯ, Nhật Bản đã giảm mạnh nhập khẩu hàng Việt Nam.