CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ VÀ MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ 1. CÁC LOẠI KHỦNG HOẢNG 1. Khủng hoảng ngân hàng Khủng hoảng ngân hàng xảy ra ở một quốc gia nếu quốc gia đó đang đối mặt với việc vốn ngân hàng suy giảm nhanh chóng và chi phí của việc giải quyết khủng hoảng là khá cao. Khủng hoảng ngân hàng là một biến thể nghiêm trọng của tình trạng kiệt quệ ngân hàng, trong tình trạng đó tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng tài sản ngân hàng vượt quá 10% và chi phí của các hoạt động “ứng cứu” hệ thống ngân hàng vượt quá 2% GDP.
Khủng hoảng ngân hàng còn được xác định khi xuất hiện những sự kiện như thua lỗ của các ngân hàng, đóng băng tiền gửi, quốc hữu hóa các ngân hàng lớn, thâu tóm và sáp nhập ngân hàng. Khủng hoảng ngân hàng bắt đầu khi tháo chạy tiền khỏi ngân hàng dẫn đến việc chính phủ phải đóng cửa, thâu tóm hoặc sáp nhập các ngân hàng, hoặc chính phủ phải can thiệp với qui mô lớn để giúp đỡ một hoặc nhiều tổ chức tài chính, nhưng sau đó lại phải can thiệp giúp đỡ càng nhiều hơn [17]. Khủng hoảng nợ quốc gia Theo IMF, một quốc gia được xem là lâm vào khủng hoảng nợ khi nó bị Standard & Poor xếp vào hạng “không thể chi trả” hoặc nhận được một khoản cho vay lớn, vượt quá 100% hạn mức ấn định trước từ IMF. Như vậy, định nghĩa này bao gồm cả những trường hợp “gần khủng hoảng” tức là không có khả năng chi trả nhưng nhờ vay IMF nên vẫn có thể trả nợ.
Khủng hoảng tiền tệ Theo IMF, khủng hoảng tiền tệ là trạng thái mà ở đó có một cuộc tấn Luan van 13 công vào đồng tiền nội tệ, dẫn đến sự thâm hụt phần lớn dự trữ ngoại tệ, và làm mất giá nhanh chóng đồng tiền nội tệ, hoặc buộc các cơ quan chức năng phải có các biện pháp phòng vệ bằng cách sử dụng một lượng dự trữ ngoại tệ lớn hoặc nâng cao mức lãi suất. Khủng hoảng hệ thống tài chính Theo IMF, khủng hoảng hệ thống tài chính cản trở sự vận hành hiệu quả của hệ thống này, gây ra những rối loạn trầm trọng trên thị trường tài chính và những hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế. Khủng hoảng hệ thống tài chính có thể đi kèm với khủng hoảng tiền tệ. Tuy nhiên, khủng hoảng tiền tệ không phải lúc nào cũng gây ra khủng hoảng hệ thống tài chính.
Khủng hoảng thị trường tài chính Khủng hoảng thị trường tài chính xảy ra khi có sự rối loạn nặng nề trên thị trường vốn; sự ồ ạt rút tiền từ các ngân hàng thương mại, thu hẹp đáng kể quy mô tín dụng, gia tăng số vụ phá sản; giá chứng khoán biến động mạnh ngoài tầm kiểm soát, làm thu hẹp phát hành; thị trường bị “đông cứng” vì không có giao dịch, tạo ra sự mất cân đối giữa tiền vào và ra thị trường. Khủng hoảng thị trường tài chính không nhất thiết đi đôi với khủng hoảng hệ thống tài chính. Khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế, cán cân thanh toán vãng lai, cán cân vốn Khủng hoảng xảy ra khi các cán cân này thâm hụt trong thời gian quá dài và không có nguồn bù đắp. Khủng hoảng cán cân thanh toán vãng lai thường xảy ra khi cán cân thương mại bị thâm hụt [3].
Khủng hoảng khả năng thanh khoản Khủng hoảng khả năng thanh khoản phản ánh sự mất cân đối chủ yếu liên quan đến thời hạn và chủng loại của các loại giấy tờ có giá và một số loại tài sản tài chính đặc thù [3]. Khủng hoảng ngân sách nhà nước Khủng hoảng ngân sách nhà nước xảy ra khi ngân sách nhà nước thâm hụt kéo dài, trong khi các nguồn bù đắp bị hạn chế hoặc không thể lạm dụng hơn nữa nếu muốn tránh hậu quả vỡ nợ hay bùng nổ lạm phát [3]. KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ Khủng hoảng tiền tệ còn được gọi là khủng hoảng tỷ giá hối đoái hay khủng hoảng cán cân thanh toán nổ ra khi hoạt động đầu cơ tiền tệ dẫn đến sự giảm giá một cách đột ngột của đồng nội tệ hoặc trường hợp buộc các cơ quan có trách nhiệm phải bảo vệ đồng tiền của nước mình bẳng cách nâng cao lãi suất hay chi ra một khối lượng lớn dự trữ ngoại hối [7]. Hiện nay, các tổ chức tài chính và các chuyên gia kinh tế đã thống nhất xây dựng nên 3 mô hình khủng hoảng tiền tệ cơ bản: 1.
Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất được P. Krugman xây dựng, và chủ yếu đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng cán cân vãng lai, trong điều kiện tỷ giá cố định bị các hoạt động đầu cơ tấn công. Mô hình này xảy ra ở một số nước có nền tảng kinh tế vĩ mô quá yếu kém, ngân sách thâm hụt trầm trọng, cung tiền tăng quá mức khiến lạm phát gia tăng, dẫn đến cán cân thanh toán vãng lai thâm hụt trầm trọng. Trước nguy cơ đồng nội tệ bị giảm giá, Chính phủ buộc phải can thiệp bằng cách bán ngoại tệ ra thị trường để duy trì tỷ giá cố định.
Khi lượng dữ trự ngoại hối giảm xuống đến một ngưỡng nhất định, các cuộc tấn công mang tính chất đầu cơ bắt đầu xảy ra. Đến một thời điểm nào đó, Chính phủ buộc phải chấm dứt chế độ tỷ giá cố định, chuyển sang thả nổi tỷ giá, làm cho đồng nội tệ bị mất giá và khủng hoảng tiền tệ xảy ra [10]. Rủi ro xảy ra loại khủng hoảng theo mô hình này có thể được dự báo bằng việc xem xét các chính sách kinh tế. Luan van 15 Kinh tế vĩ mô yếu Thâm hụt ngân sách Phát hành Sức ép lên thêm tiền tỷ giá cố định Bán dự trữ Dự trữ Tấn công ngoại tệ suy giảm đầu cơ Khủng hoảng tiền tệ Hình 1.
Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất 1. Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai Mô hình khủng hoảng tiền tệ của Krugman đưa ra một cách giải thích khá thuyết phục về quá trình sụp đổ tỷ giá hối đoái cố định khi dự trữ ngoại tệ cạn kiệt. Tuy vậy, trong rất nhiều cuộc khủng hoảng tiền tệ (đặc biệt là đối với những nền kinh tế phát triển). Chính phủ rõ ràng có đủ dự trữ để bảo vệ tỷ giá, nhưng đã không làm vậy.
Ngược lại do mối quan ngại về tác động lãi suất cao và thất nghiệp nên chính phủ các nước đã thả nổi tỷ giá khi bị các nhà đầu cơ tấn công. Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai được Obstfeld xây dựng, còn được gọi là khủng hoảng tự phát sinh. Khủng hoảng sẽ xảy ra nếu như có một khu vực yếu kém mà các chính sách chưa đủ mạnh để tránh không cho khủng hoảng xảy ra, nhưng các chính sách cũng có đủ bất cập khiến khủng hoảng là điều khó tránh khỏi [10]. Mô hình này có thể xảy ra ở những nước có độ yếu kém về tài chính và vĩ mô vừa phải, song cam kết duy trì tỷ giá cố định của Chính phủ bị suy yếu do các biện pháp bảo vệ tỷ giá quá tốn kém.
Khi đó, các nhà đầu cơ có thể bán tháo đồng nội tệ để mua ngoại tệ, gây sức ép khiến Chính phủ phải từ bỏ Luan van 16 chính sách tỷ giá cố định, thực thi chính sách tiền tệ mở rộng. Hậu quả là khủng hoảng bùng phát. Biến thể của mô hình này xuất phát từ tình trạng thông tin không hoàn hảo và bất cân xứng. Trong điều kiện một hoặc vài ngân hàng có vấn đề, sẽ gây ra tâm lý “bầy đàn” dẫn đến hành vi rút tiền ồ ạt ra khỏi hệ thống tài chính, dẫn đến khủng hoảng.
Khác với khủng hoảng mô hình thế hệ thứ nhất, khủng hoảng mô hình thế hệ thứ hai không thể dự báo nếu chỉ thông qua chính sách vĩ mô truyền thống đơn thuần, mà cần phải xem xét các chính sách theo nghĩa rộng; tuy nhiên, cũng không chắc chắn có thể xác định chính xác thời điểm khủng hoảng. Kỳ vọng thị trường (Chính phủ rời bỏ tỷ giá cố định để thực hiện chính sách khác) Kỳ vọng nội tệ bị phá giá Đầu cơ nội Lãi suất tăng tệ Thả nổi tỷ Khủng giá hoảng Hình 1. Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai 1. Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba được Yoshitomi và Ohno xây dựng, đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế.
Việc tự do hóa tài khoản vốn với lộ trình không thích hợp thường dẫn Luan van 17 đến 2 hệ quả là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kép (khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng): - Luồng vốn đổ vào ồ ạt quá mức thâm hụt cán cân vãng lai khiến cán cân thanh toán thặng dư và dự trữ ngoại hối tăng. Điều này dẫn đến sự gia tăng tín dụng, đầu tư và tiêu dùng trong nước. Điều quan trọng là đầu tư quá mức và kém hiệu quả làm thâm hụt cán cân vãng lai tăng, mức cung dư thừa. Khi các nhà đầu tư nhận ra những dấu hiệu bất ổn (sự giảm xuống của giá bất động sản và cổ phiếu, hoạt động tấn công đầu có tiền tệ,…), họ đồng loạt rút vốn ra khỏi nền kinh tế.
Hậu quả là cán cân thanh toán ngày càng thâm hụt trầm trọng, dự trữ ngoại hối cạn kiệt, và một cuộc khủng hoảng tiền tệ đã có đủ điều kiện để xảy ra. - Trong điều kiện tự do hóa cán cân vốn, một lượng vốn ngắn hạn với tỷ trọng quá lớn (lớn hơn nhiều lần dự trữ ngoại hối) đã đổ vào nền kinh tế. Trong điều kiện giám sát vốn vay kém hiệu quả, một lượng lớn vốn vay ngắn hạn bằng ngoại tệ được sử dụng cho vay bằng nội tệ để đầu tư vào các dự án dài hạn kém hiệu quả. Và khi đồng nội tệ mất giá, một lượng lớn nguồn vốn ngắn hạn bị các nhà đầu tư rút ra, bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp và ngân hàng xấu đi nghiêm trọng.
Khi đó, tài sản ròng của các ngân hàng sụt giảm nhanh chóng, buộc phải thu hẹp tín dụng, tạo điều kiện cho bảng cân đối kế toán tồi tệ hơn. Quá trình tác động vòng xoáy và cộng hưởng này làm khủng hoảng bùng phát nhanh chóng và đẩy các quốc gia lún sâu vào suy thoái [10]. Luan van 18 Hệ thống tài chính Dòng vốn nước ngoài CS vĩ mô: nôị địa: tập trung chảy vào: Nợ có mệnh TGHĐ cố định. vào NH, giám sát giá bằng ngoại tệ và kì yếu kém, tâm lí ỷ lại.
hạn ngắn gia tăng.