CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái quát những nghiên cứu các hợp phần chính của hệ sinh thái Hệ sinh thái có thể hiểu là bao gồm quần xã sinh vật (động vật, thực vật, vi sinh vật) và môi trường vô sinh (ánh sáng, nhiệt độ, chất vô cơ. Tùy theo cấu trúc dinh dưỡng tạo nên sự đa dạng về loài, cao hay thấp, tạo nên chu trình tuần hoàn vật chất (chu trình tuần hoàn vật chất hiện nay hầu như chưa được khép kín vì dòng vật chất lấy ra không đem trả lại cho môi trường đó. Hệ sinh thái có kích thước to nhỏ khác nhau và cùng tồn tại độc lập (nghĩa là không nhận năng lượng từ hệ sinh thái khác).
Hệ sinh thái là đơn vị cơ bản của sinh thái học và được chia thành hệ sinh thái nhân tạo và hệ sinh thái tự nhiên. Đặc điểm của hệ sinh thái là một hệ thống hở có 3 dòng (dòng vào, dòng ra và dòng nội lưu) vật chất, năng lượng, thông tin. Hệ sinh thái cũng có khả năng tự điều chỉnh để duy trì trạng thái cân bằng, nếu một thành phần thay đổi thì các thành phần khác cũng thay đổi theo ở mức độ nào đó để duy trì cân bằng, nếu biến đổi quá nhiều thì sẽ bị phá vỡ cân bằng sinh thái. Những nghiên cứu về hợp phần thực vật của hệ sinh thái a.
Đa dạng hệ thực vật: Trong lĩnh vực tài nguyên thực vật, viện Điều tra Qui hoạch Rừng đã công bố 7 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) giới thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh hoạ, đến năm 1996 công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên. Trần Đình Lý và tập thể (1993) công bố 1900 cây có ích ở Việt Nam, Võ Văn Chi (1997) công bố từ điển cây thuốc Việt Nam. Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam trong những năm gần đây. Đây là bộ danh sách đầy đủ nhất góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam.
Ngoài ra một số họ riêng biệt đã được công bố như Orchidaceae Đông Dương của Seidenfaden (1992), Orchidaceae Việt Nam của Leonid V. Averyanov (1994), Euphorbiaceae Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), Annonaceae Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000), Lamiaceae của Vũ LUAN VAN CHAT LUONG download2 : add luanvanchat@agmail.com Xuân Phương (2000), Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002), Cyperaceae của Nguyễn Khắc Khôi (2002). Đây là những tài liệu quan trọng nhất làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam. Cùng với những thống kê về đa dạng loài, các tác giả đã chú ý phân tích nhiều về quy luật tiến hóa đa dạng: Nguyễn Tiến Bân (1997) đã thống kê và đi đến kết luận thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam hiện biết 8500 loài, 2050 chi trong đó lớp Hai lá mầm 1590 chi và trên 6300 loài, lớp Một lá mầm 460 chi với 2200 loài [44].
Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9628 loài cây hoang dại có mạch, 2010 chi, 291 họ, 733 loài cây trồng, như vậy tổng số loài lên tới 10361 loài, 2256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng số các loài, chi và họ của thế giới. Ngành Hạt kín chiếm 92,47% tổng số loài, 92,48% tổng số chi và 85,57% tổng số họ. Ngành Dương xỉ kém đa dạng hơn theo tỷ lệ 6,45%, 6,27%, 9,97% về loài. Ngành Thông đất đứng thứ 3 (0,58%) tiếp đến là ngành Hạt trần (0,47%) hai ngành còn lại không đáng kể về họ, chi và loài [61].
Tính quy luật phân bố của các loài thực vật cũng là một trong những cấu thành sự đa dạng của hệ thực vật. Mỗi hệ thực vật bao gồm nhiều yếu tố địa lý thực vật khác nhau, các yếu tố này thể hiện ở yếu tố đặc hữu và yếu tố di cư, các loài thuộc yếu tố đặc hữu thể hiện ở sự khác biệt giữa các hệ thực vật với nhau, còn các loài thuộc yếu tố di cư sẽ chỉ ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó. Ở Việt Nam, trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, tác giả Pócs Tamás (1965) đã đưa ra một số kết quả như sau : - Cây gỗ lớn cao trên 30m (Meg) 4,85% - Cây lớn có chồi trên đất cao 8 – 30m (Mes) 13,80% - Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m(Na) 18,02% - Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp) 9,08% - Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep) 6,45% - Cây chồi sát đất (Ch) - Cây chồi nửa ẩn (Hm) 40,68% - Cây chồi ẩn (Cr) LUAN VAN CHAT LUONG download3 : add luanvanchat@agmail.com - Cây chồi một năm (Th) 7,11% Và ông đưa ra phổ dạng sống như sau : SB = 52,21Ph + 40,68 (Ch,H, Cr) + 7,11Th b. Tính đa dạng các quần xã thực vật Năm 1970 và 1978, Thái Văn Trừng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh trình bày bảng phân loại thảm thực vật toàn lãnh thổ Việt Nam, từ bậc nhóm kiểu thảm thực vật tới bậc quần hợp.
Bảng phân loại của ông đưa ra hai nhóm kiểu thảm thực vật chủ yếu phân hóa theo đai cao là: 1.Nhóm những kiểu thảm thực vật nhiệt đới ở vùng thấp và vùng có độ cao trung bình dưới 700m ở miền Bắc và dưới 1000m ở miền Nam [63].Nhóm những kiểu thảm thực vật vùng núi có độ cao trên 700m ở miền Bắc và trên 1000m ở miền Nam[63]. Dựa vào sự phân hóa của khí hậu, mười bốn kiểu thảm thực vật khác nhau được phân chia tiếp từ hai nhóm kiểu thảm thực vật này, tên của mỗi kiểu thảm được gọi bằng chính tên của các kiểu khí hậu sinh vật do ông xác định. Trong mỗi kiểu thảm thực vật khí hậu lại bao gồm các kiểu phụ miền thực vật, kiểu phụ thổ nhưỡng, kiểu phụ nhân tác với tổ hợp thành phần loài đặc trưng cho hệ thực vật thân thuộc nào đó trên đất địa đới hoặc là thành phần loài chỉ thị cho các kiểu đất phi địa đới, nội địa đới, các điều kiện nhân tác của con người… Các tổ hợp thành phần loài này, tùy theo tỷ lệ cá thể của các loài ưu thế được sắp xếp trong các bậc phân loại “Ưu hợp” hay “Quần hợp” và “Biến chủng”. Điều dễ nhận thấy là quan niệm “Ưu hợp của Thái Văn Trừng thực tế trùng lặp với quan niệm kiểu quần xã ưu thế loài của Whittaker (1962) nếu dùng ở cấp loài.Nghiên cứu về Tảo và vi khuẩn Lam ở thủy vực Cho tới nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau trong xây dựng hệ thống phân loại tảo.
Các công trình nghiên cứu tảo và vi khuẩn lam ở Việt Nam được tiến hành muộn hơn so với thế giới nhưng cũng đã có một số thành tựu nhất định. LUAN VAN CHAT LUONG download4 : add luanvanchat@agmail.com Công trình nghiên cứu đầu tiên về tảo ở Việt Nam được J. Loureiro tiến hành từ năm 1793 về tảo lục Ulvapisum. Cho đến năm 2001 Việt Nam đã định loại được 2191 loài tảo thuộc 9 ngành và 368 loài vi khuẩn lam.
Trong giai đoạn này, các nghiên cứu mang tính chất chuyên khảo về ngành, lớp và bộ tảo lớn ở Việt Nam cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Năm 2003, Nguyễn Văn Tuyên xuất bản cuốn “Đa dạng sinh học Tảo trong các thuỷ vực nội địa Việt Nam- Triển vọng và thử thách”. Trong công bố này, danh lục các loài tảo nội địa Việt Nam có 1563 loài và dưới loài thuộc các ngành Euglenophyta (218 loài và dưới loài), Chlorophyta (637 loài và dưới loài), Cyanophyta (268 loài và dưới loài), Bacillariophyta (401 loài và dưới loài), Chrysophyta (13 loài và dưới loài), Pyrrophyta (17 loài và dưới loài), Xanthophyta (9 loài và dưới loài).]Theo tác giả, khu hệ Tảo nội địa Việt Nam mang tính nhiệt đới với 27% số loài nhiệt đới. Những nghiên cứu về hợp phần động vật của hệ sinh thái Theo báo cáo về quan trắc môi trường nước của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong 10 quốc gia giàu ĐDSH nhất trên thế giới, với sự có mặt của 10% số loài được biết đến, trong khi diện tích lãnh thổ chỉ chiếm chưa đến 1% diện tích Trái đất.
Việt Nam là nơi cư trú của hơn 275 loài thú có vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 2.500 loài côn trùng và 12.000 loài cây (trong đó chỉ có 7.000 loài đã được nhận dạng). Tuy nhiên, ngày nay, nhu cầu về động vật hoang dã và các sản phẩm làm từ động vật hoang dã tại Việt Nam có chiều hướng gia tăng đã làm suy giảm nghiêm trọng sự đa dạng sinh học này. Theo báo cáo của Hội Động vật học Việt Nam, các loài bị khai thác bất hợp pháp chủ yếu là rắn, kỳ đà, tê tê, hổ, gấu, voi… Tỉ trọng các cá thể được khai thác gồm thú rừng 20%, rắn 45%, rùa 30%. với hơn 66% sử dụng làm thực phẩm.
Chính nhu cầu lớn này đã khiến Việt Nam đang nằm trong top 19 nước có số loài hoang dã bị đe dọa, top 15 nước về số loài thú bị đe dọa. Theo Sách đỏ Việt Nam, số loài động vật nguy cấp quý hiếm tăng từ 365 loài (năm 1992) lên 418 loài (năm 2007), trong đó có 116 loài mức nguy cấp rất cao, 9 loài từ nguy cấp lên mức coi LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com như đã tuyệt chủng. Theo ước tính của Quỹ Bảo vệ động vật hoang dã (WWF) trong vòng 40 năm, 12 loài động vật quý hiếm đã bị biến mất hoàn toàn ở Việt Nam.Những loài động vật quý hiếm như hổ, tê giác…đang dần dần biến mất. Nghiên cứu đa dạng sinh học động vật, đặc biệt là động vật không xương sống thực tế còn chưa đầy đủ, do vậy những nghiên cứu theo hướng này dù ở khu vực nào cũng được xem là những nghiên cứu bước đầu và cần được cập nhật theo từng giai đoạn.Có thể thấy rằng, các nghiên cứu về động vật không xương sống nước ngọt trên thế giới chủ yếu tập trung nghiên cứu về thành phần loài, phân loại học, địa động vật và đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài cũng như mối tương quan với môi trường.
Các nghiên cứu tổng hợp về thành phần loài tại các vùng/vườn quốc gia/khu bảo tồn nhằm mục đích cung cấp dẫn liệu khoa học đầy đủ, làm cơ sở khoa học để hoạch định chính sách, bảo tồn và phát triển bền vững còn hạn chế. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 1.