MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Lào Cai và Hà Giang là những tỉnh miền núi phía bắc có tài nguyên rừng thuộc loại phong phú nhất ở Việt Nam. Theo niên giám thông kê của các tỉnh, hiện nay, Lào Cai có 278.907ha rừng, chiếm 43,87% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có 229.296,6 ha rừng tự nhiên và 49.604 ha rừng trồng; Lào Cai có Vƣờn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) với hệ sinh thái tự nhiên rất phong phú (có trên 2.000 loài thực vật, trên 400 loài chim, thú, lƣỡng cƣ và bò sát. Trong đó, có rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm có trong sách đỏ Việt Nam.
Đây cũng là nơi tập trung kho tàng quỹ gen thực vật quý hiếm, chiếm 50% số loài thực vật quý hiếm của Việt Nam).537 ha rừng, chiếm 36,1% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có 262.957 ha rừng tự nhiên và 21.580 ha rừng trồng; Hà Giang có nhiều khu rừng nguyên sinh, nhiều loài động vật quý hiếm nhƣ gấu ngựa, sơn dƣơng, gà lôi, đại bàng., các loại gỗ quý hiếm nhƣ ngọc am (hoàng đàn rủ), pơ mu, lát chun, đinh, chò chỉ. và có 5 Khu BTTN là Tây Côn Lĩnh, Phong Quang huyện Vị Xuyên; Căng Bắc Mê huyện Bắc Mê; Bát Ðại Sơn huyện Quản Bạ; Du Già huyện Yên Minh. Đoạn QL4 dự kiến mở rộng nâng cấp nằm trong vùng có khí hậu mùa đông lạnh, mùa hè nhiều mƣa và qua vùng núi phía bắc của 2 tỉnh, bắt đầu từ Simaca (Lào Cai), chạy trên cao nguyên đá vôi Bắc Hà đến Xín Mần (Hà Giang) rồi vƣợt qua dãy núi cao thƣợng nguồn sông Chảy nơi có hệ sinh thái bảo tồn Tây Côn Lĩnh phát triển trên vỏ phong hóa đá granit và đá phiến để đến QL2 (Hà Giang). Tƣơng thích với đặc điểm khí hậu và sự đa dạng của các thành tạo địa chất là sự đa dạng của các hệ sinh thái, hệ động thực vật đai cao.
Từ Km383 ÷ Km414, tuyến Dự án đƣợc thiết kế mở rộng trên cơ sở đƣờng cũ với chiều dài khoảng 31km đi cắt qua vùng đệm phía bắc Khu BTTN Tây Côn Lĩnh, có điểm gần nhất cách vùng lõi của Khu BTTN khoảng 1,5km về phía Tây Bắc. Đoạn tuyến đi cắt ngang sƣờn dốc phía Bắc của khối núi cao thƣợng nguồn sông Chảy, nơi tiềm ẩn nguy cơ sạt lở lớn nếu lớp phủ mặt bị bóc lộ. Dọc đoạn tuyến là các điểm định cƣ, canh tác của dân cƣ các xã 1 z Thanh Thủy, Lao Chải, Thanh Đức, Xin Chải, Tân Tiến, Túng Sán. Tuy nhiên, do QL4 đã hình thành rất nhiều năm nên dọc hành lang này, rừng tự nhiên bị biến cải nhiều do ngƣời dân khai thác đất rừng để định cƣ và canh tác.
QL4 đƣợc đầu tƣ, nâng cấp sẽ gây ra nhiều ảnh hƣởng tiêu cực đến hệ sinh thái nơi đây, đặc biệt là khu vực tuyến đi qua vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận văn “Đánh giá ảnh hưởng của dự án đầu tư nâng cấp Quốc lộ 4, đoạn nối Hà Giang - Lào Cai tới hệ sinh thái khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh và đề xuất các giải pháp giảm thiểu” đƣợc thực hiện nhằm đánh giá những thiệt hại có thể gây ra bởi Dự án đến hệ sinh thái và đƣa ra những giải pháp nhằm tránh hoặc giảm nhẹ các tác động này. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu vào các mục tiêu sau: Đánh giá ảnh hƣởng từ các hoạt động của Dự án đến hệ sinh thái khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh; Đề xuất các giải pháp giảm thiểu các ảnh hƣởng tiêu cực gây ra bởi Dự án đến hệ sinh thái KBTTN Tây Côn Lĩnh. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Hệ sinh thái a. Khái niệm về hệ sinh thái (HST) Hệ sinh thái đƣợc nghiên cứu từ lâu và vì vậy, khái niệm này đã ra đời ở cuối thế kỷ thứ XIX dƣới các tên goị khác nhau nhƣ “Sinh vật quần lạc” (Dakuchaev, 1846, 1903; Mobius,1877). Thuật ngữ hệ sinh thái đƣợc A. Tansley đƣa ra và định nghĩa năm 1935 trong bài báo với tiêu đề: “The use and the abuse of Vegetational concepts andterms”, đăng ở tạp chí Ecology số 16, trang 284-307.
Từ đó đến nay, thuật ngữ này đƣợc diễn giải và trình bày tuy có khác nhau, nhƣng nội dung căn bản vẫn giống nhau. Cụ thể, khái niệm về HST là: Hệ sinh thái (ecosystem) là tổ hợp của một quần xã sinh vật và môi trƣờngvật lý mà quần xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật tƣơng tác với nhau và với môi trƣờng để tạo nên chu trình vật chất và sự chuyển hoá năng lƣợng. Nói cách khác, HST bao gồm các sinh vật sống và các điều kiện tự nhiên (môi trƣờng vật lý) nhƣ ánh sáng, nƣớc, nhiệt độ, không khí. Điều quan trọng là tất cả các điều kiện hữu sinh (biotic component) và vô sinh (abioticcomponent) tác động tƣơng hỗ với nhau và giữa chúng luôn xảy ra quá trình trao đổi năng lƣợng, vật chất và thông tin.
Các khái nhiệm liên quan: Sinh cảnh (biotope): là một phần của môi trƣờng vật lý mà ở đó có sự thống nhất của các yếu tố cao hơn so với môi trƣờng, tác động tới đời sống của sinh vật. Nơi sống (habitat): là không gian cƣ trú của các sinh vật hoặc là không gian mà ở đó thƣờng hay gặp sinh vật đó. Cấu trúc của hệ sinh thái Một HST hoàn chỉnh bao gồm các thành phần sau: 3 z Sinh vật sản xuất: Là những sinh vật tự dƣỡng (autotrophy), gồm các loài thực vật có màu, một số nấm, vi khuẩn có khả năng quang hợp hoặc hoá tổng hợp. Chúng là thành phần không thể thiếu của bất kỳ hệ sinh thái nào.
Nhờ quá trình quang hợp và hoá tổng hợp của chúng mà nguồn thức ăn ban đầu của hệ sinh thái đƣợc tạo thành để nuôi sống trƣớc tiên là chính sinh vật sản xuất, sau đó là cả thế giới sinh vật - trong đó có cả con ngƣời. Sinh vật tiêu thụ: Là những sinh vật dị dƣỡng (heterotrophy) gồm tất cả các loài động vật và những vi sinh vật không có khả năng quang hợp và hoá tổng hợp. Chúng tồn tại đƣợc là nhờ nguồn thức ăn do sinh vật tự dƣỡng tạo ra. Sinh vật phân huỷ: Là tất cả các vi sinh vật dị dƣỡng, sống hoại sinh.
Trong quá trình phân huỷ các chất, chúng tiếp nhận nguồn năng lƣợng hoá học để tồn tại và phát triển, đồng thời giải phóng các chất từ các hợp chất phức tạp ra môi trƣờng dƣới dạng những khoáng chất đơn giản hoặc những nguyên tố hoá học ban đầu. Các chất vô cơ: CO2, O2, H2O, … Các hợp chất hữu cơ: protein, lipit, gluxit, vitamin,… Các yếu tố khí hậu: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, lƣợng mƣa,… Ngoài cấu trúc theo thành phần, HST còn có kiểu cấu trúc theo chức năng.Odum (1983), cấu trúc của hệ gồm các phạm trù sau: Quá trình chuyển hoá năng lƣợng của hệ. Xích thức ăn trong hệ Các chu trình sinh địa hoá diễn ra trong hệ Sự phân hoá trong không gian và theo thời gian. Các quá trình phát triển và tiến hoá của hệ.
Các quá trình tự điều chỉnh. Đặc trƣng của hệ sinh thái Hệ sinh thái có các đặc trƣng sau đây: Hệ sinh thái là một hệ thống, luôn vận động và biến đổi không ngừng, trạng thái tĩnh chỉ là tƣơng đối và tạm thời. Hệ sinh thái là một hệ thống cân bằng động và có khả năng tự điều chỉnh, cơ chế 4 z điều chỉnh thông qua sự điều chỉnh về số lƣợng sinh vật trong quần xã và điều chỉnh tốc độ của chu trình vật chất và dòng năng lƣợng. Hệ sinh thái có tính đa dạng càng cao thì tính bền vững càng lớn.
Khu bảo tồn a. Khái niệm về khu bảo tồn Có nhiều khái niệm về về KBT, có thể kể đến một vài khái niệm nhƣ sau: Theo Công ước Quốc tế về đa dạng sinh học: Khu bảo tồn là một vùng địa lý đƣợc chọn và đƣợc quản lý nhằm mục đích đạt đƣợc một số mục tiêu về bảo tồn”. Tại Đại hội lần thứ tư về Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn, tổ chức tại Caracas, Vênêduêla năm 1992 (IUCN 1994): Khu bảo tồn là vùng đất và/ hay biển đƣợc sử dụng đặc biệt cho bảo vệ, lƣu giữ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá, và đƣợc quản lý bằng pháp luật và các biện pháp hữu hiệu khác. Theo chiến lược toàn cầu về Đa dạng sinh học (WRI/IUCN/UNEP1992): Khu bảo tồn là một vùng đất hay nƣớc đƣợc thành lập một cách hợp pháp thuộc nhà nƣớc hay tƣ nhân, đƣợc điều chỉnh và quản lý nhằm bảo tồn các mục tiêu nhất định.
Vai trò của KBT: Là nơi duy trì lâu dài những mẫu điển hình thiên nhiên có diện tích đủ rộng lớn và đó là hệ sinh thái đang hoạt động. Là nơi duy trì tính đa dạng sinh học, có tác dụng điều chỉnh môi trƣờng nhờ các quần xã sinh vật có khả năng phân giải các chất ô nhiễm. Nơi duy trì các vốn gen di truyền, là nơi cung cấp nguyên liệu cho công tác tuyển chọn vật nuôi cây trồng hiện nay và sau này kể cả cho các mục đích khác. Đóng vai trò duy trì cân bằng sinh thái cho từng vùng nhất định, điều hoà khí hậu, mực nƣớc, bảo vệ các tài nguyên sinh vật để chúng phát triển bình thƣờng, hạn chế xói mòn, lũ lụt, hạn hán.
Bảo vệ đƣợc phong cảnh, nơi giải trí và du lịch cho nhân dân, bảo vệ đƣợc các di sản văn hoá, khảo cổ, lịch sử dân tộc. 5 z Nơi nghiên cứu khoa học, học tập, giáo dục và đào tạo. Nhiều sách giáo khoa đƣợc biên soạn, nhiều chƣơng trình vô tuyến, phim ảnh đƣợc xây dựng về chủ đề Khu bảo tồn thiên nhiên với mục đích giáo dục và giải trí. Tăng thu nhập do thu tiền khách du lịch trong và ngoài nƣớc, tạo công ăn việc làm cho ngƣời dân trong vùng.
6 z CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 2. Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài sẽ nghiên cứu các vấn đề sau đây: Các hoạt động của Dự án; Hiện trạng hệ sinh thái KBTTN Tây Côn Lĩnh tại khu vực Dự án; Các ảnh hƣởng có thể gây ra bởi các hoạt động của Dự án đến KBTTN Tây Côn Lĩnh; Các giải pháp giảm thiểu.