CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ KBTB 1.Khu bảo tồn biển 1. Khái niệm và phân loại 1. Khu bảo tồn Định nghĩa: Theo IUCN:“Khu bảo tồn là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khỏc” (IUCN 1994). Các loại hình KBT: Theo báo cáo quốc gia của VN về các KBT và phát triển.
Khu bảo tồn Khu rừng Đất ngập Khu bảo tồn Khu di sản Khu dự trữ đặc dụng nước biển thế giới sinh quyển Khu rừng Vườn quốc Khu bảo tồn văn hóa lịch gia thiên nhiên sử môi trường Hình 1: Sơ đồ các loại hình KBT Khu rừng đặc dụng: Rừng đặc dụng bao gồm các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên và các khu di tích lịch sử-văn húa-mụi trường, do bộ NN&PTNT trực tiếp quản lý. Tính đến tháng 12 năm 2002 Bộ NN&PTNT đã thống kê được 25 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn thiên nhiên, 37 khu di tích văn húa-lịch sử-mụi trường. SV: Nguyễn Thị Thảo 9 Lớp: KTMT 47 Luận văn tốt nghiệp Đất ngập nước: Bằng việc thông qua Công ước đa dạng sinh học và Công ước Ramsar về đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, Chính phủ đã cam kết thành lập một mạng lưới các khu bảo tồn đất ngập nước. Kế hoạch hành động đa dạng sinh học bao gồm 61 khu đất ngập nước.
Mới đây, 68 khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia đã được xác định trong đó có một số khu nằm trong hệ thống rừng đặc dụng. Cơ quan chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp khu đất ngập nước là Bộ TN&MT. Các KBTB: Việt Nam hiện có 2 khu di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng và 3 khu di sản thế giới nữa là: Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An và tổ hợp các công trình Huế đã được UNESCO công nhận. Các khu dự trữ sinh quyển: Chương trình con người và sinh quyển của UNESCO đã công nhận trên 370 khu dự trữ sinh quyển trên toàn thế giới.
Rừng ngập mặn Cần Giờ là khu dự trữ con người và sinh quyển đầu tiên của Việt Nam. Mục tiêu của các khu dự trữ sinh quyển là kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học với sử dụng bền vững tài nguyên cho con người. Khu bảo vệ biển Theo IUCN: “KBVB là bất cứ 1 khu vực lãnh thổ giữa 2 mức triều hoặc cận thủy triều cùng với khối nước che phủ và hệ động vật hệ thực vật kèm theo, các đặc điểm lịch sử và văn hóa, được luật pháp bảo hộ hoặc các biện pháp có hiệu quả khác cần để bảo vệ một bộ phận hay toàn bộ môi trường bao quanh”. Theo đú thỡ mọi khu vực ven biển đều có thể trở thành các KBVB mà không phải có bất cứ điều kiện ràng buộc nào.
Khu bảo tồn biển Định nghĩa Theo IUCN: “KBTB được xác định là bất kỳ khu vực nào nằm trong vùng triều hoặc dưới triều cùng với toàn bộ bao gồm toàn bộ phần mặt nước SV: Nguyễn Thị Thảo 10 Lớp: KTMT 47 Luận văn tốt nghiệp phía trên cùng với các hệ động thực vật và các di sản văn hóa và lịch sử liên đới được lưu giữ bởi luật pháp và các phương thức hữu hiệu khác nhằm bảo vệ một phần hoặc toàn bộ môi trường liên quan”. Theo nghị định số 27 của Chính phủ Việt Nam hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thủy sản: “KBTB là vùng biển được xác định (kể cả đảo có trong vùng biển đú) cú cỏc loài động vật, thực vật có giá trị và tầm quan trọng quốc gia hoặc quốc tế về khoa học, giáo dục, du lịch, giải trí được bảo vệ và quản lý theo quy chế của Khu Bảo tồn”. Phân loại KBTB Theo Nghị định số 57/2008/NĐ-CP: KBTB có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế được phân loại thành: Vườn quốc gia; Khu bảo tồn loài, sinh cảnh; Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh. Khu bảo tồn biển Khu bảo tồn loài, sinh Khu dự trữ tài nguyên Vườn quốc gia cảnh thiên nhiên thủy sinh Hình 2: Sơ đồ các loại hình KBTB - Vườn Quốc gia có đủ các điều kiện sau: Là vùng biển có một hay nhiều hệ sinh thái điển hình như: san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn hay hệ sinh thái đầm phá, cửa sông còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người; là nơi sinh cư của một hay nhiều loài động, thực vật biển hoang dã, quý hiếm, đang bị đe dọa có nguy cơ tuyệt chủng, cần được quản lý, bảo vệ, bảo tồn.
Diện tích Vườn Quốc gia nhỏ nhất không ít hơn 20. Trong đó, diện tích các hệ sinh thái điển hình còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người tối thiểu phải chiếm 1/3 diện tích của Vườn. Là khu vực mà mục tiêu bảo tồn bảo đảm được thực hiện và không bị thay đổi bởi những hoạt động bất lợi của con người. SV: Nguyễn Thị Thảo 11 Lớp: KTMT 47 Luận văn tốt nghiệp - Khu bảo tồn loài, sinh cảnh có đủ các điều kiện sau: Là vùng biển có một hay nhiều loài động, thực vật biển hoang dã, quý hiếm, đang bị đe dọa có nguy cơ tuyệt chủng; cú cỏc hệ sinh thái điển hình như san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn, hay hệ sinh thái đầm phá, cửa sông còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người, cần được quản lý, bảo vệ, bảo tồn.
Diện tích của Khu bảo tồn loài, sinh cảnh nhỏ nhất không ít hơn 10. Trong đó, vùng bảo vệ nghiêm ngặt tối thiểu phải chiếm 1/5 diện tích của Khu bảo tồn. Là khu vực mà mục tiêu bảo tồn bảo đảm được thực hiện và không bị thay đổi bởi những hoạt động bất lợi của con người. - Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh có đủ các điều kiện sau: Là vùng biển, nơi sinh cư của nhiều loài động, thực vật biển; cú cỏc bói đẻ hay khu vực tập trung các loài sinh vật biển chưa trưởng thành; nguồn giống bổ sung cho các vùng biển liền kề.
Diện tích của Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên nhỏ nhất không ít hơn 10. Trong đó, diện tích cỏc bói đẻ hoặc khu vực tập trung các loài sinh vật biển chưa trưởng thành tối thiểu phải chiếm 2/3 diện tích của Khu bảo tồn. Là khu vực mà mục tiêu bảo tồn bảo đảm được thực hiện và không bị thay đổi bởi những hoạt động bất lợi của con người. Từ các quy định này ta thấy để trở thành KBTB thỡ cỏc khu vực ven biển phải đạt được rất nhiều tiêu chí.
Đây lại chính là rào cản cho các vùng ven biển có giá trị nhưng không có được đầy đủ các điều kiện này. Theo định nghĩa của IUCN đó nờu ở trên thỡ cỏc khu vực không đạt các điều kiện về KBTB đều có thể trở thành các khu bảo vệ biển. Tuy nhiên đây là khái niệm do IUCN đưa ra trong khi luật pháp Việt Nam chưa có bất cứ quy định nào về Khu bảo vệ biển mà chỉ đưa ra một số hướng dẫn trong quản lý vùng ven bờ. Do đó, các khu bảo vệ biển nếu được thành lập thì cũng sẽ không nhận được SV: Nguyễn Thị Thảo 12 Lớp: KTMT 47 Luận văn tốt nghiệp bất cứ quyền lợi nào về mặt pháp lý.
Có chăng thì chỉ là sự hỗ trợ từ phía địa phương. Mặc dù khác nhau về quy mô diện tích nhưng mục tiêu, khó khăn, thách thức, cách thức quản lý… của KBTB và KBVB là hoàn toàn giống nhau. Do đó, trong phần phương pháp luận tuy nói về KBTB nhưng thực chất đó cũng là cơ sở lý luận về KBVB. Mục tiêu KBTB Theo IUCN, mục tiêu của các KBTB là nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và khả năng sinh sản (bao gồm sự sống sinh thái) của đại dương.
IUCN cũng đã xác định mục tiêu cho mạng lưới các KBTB toàn cầu theo ngôn ngữ tiêu chuẩn trong Nghị quyết Đại hội đồng như sau: “Hỗ trợ bảo vệ, tái tạo, sử dụng một cách thông minh, am hiểu và tận hưởng vĩnh viễn các di sản biển trên thế giới thông qua việc thiết lập một hệ thống đại diện các KBTB toàn cầu và thông qua việc quản lý phù hợp với các nguyên tắc trong chiến lược bảo tồn thế giới về các hoạt động của con người có thể sử dụng hoặc ảnh hưởng tới môi trường biển”(Trích từ: Nghị quyết Đại hội đồng 17. Mục tiêu này cũng được lặp lại trong Nghị quyết Đại hội đồng 19.46 năm 1994 và trong nghị quyết tương tự của Đại hội hoang dã thế giới năm 1997). Tính cấp thiết của việc thiết lập KBTB Việt Nam trải dài qua 13 vĩ tuyến theo hướng Bắc - Nam với khoảng 3260 km bờ biển và 2.700 đảo lớn nhỏ. Các hệ sinh thái nhiệt đới điển hình như rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển phân bố rộng ở vùng ven biển và các đảo xa.
Biển Việt Nam còn được coi là nơi có thành phần loài sinh vật khá cao, cung cấp nhiều nguồn lợi đáng kể. Nghề cá ở nước ta mang tính đa loài, giá trị các loài khác nhau nhiều. Ngoài nghề cá truyền thống, nhiều nguồn lợi mới mang lại lợi ích lớn. Biển và vùng ven biển nước ta còn cho một tiềm năng lớn về du lịch.
Cảnh quan trên bờ và dưới nước ở vịnh Hạ long, Nha Trang,. đang thu hút du khách từ bốn phương. Nguồn lợi biển đã và đang được sử dụng với cường độ ngày càng cao. Cùng với quá trình tăng SV: Nguyễn Thị Thảo 13 Lớp: KTMT 47 Luận văn tốt nghiệp trưởng kinh tế, hoạt động của con người đã gây ra nhiều tác động đối với tài nguyên và môi trường biển.
Có thể kể đến một số tác động chính sau đây: Khai thác quá mức: Nhờ các cải tiến về phương pháp đánh bắt và tăng số lượng, công suất tàu thuyền, sản lượng khai thác mỗi năm tăng. Tuy vậy, hiệu quả đánh bắt lại đang giảm. Những nguồn lợi có giá trị cao như tôm hùm, cá mú, hải sâm, bào ngư, cá ngựa,. được khai thác rất triệt để ở vùng nước nụng.
Cỏc loài hiếm như rùa biển cũng bị khai thác làm thực phẩm. Sử dụng san hô làm mỹ nghệ rất phổ biến. Buôn bán cá cảnh biển phát triển kéo theo đánh bắt quá mức cá rạn san hô. Sự biến mất của một số loài có thể gây ra mất cân bằng sinh thái của các quần xã sinh vật biển.