Tổng quan luận án

Nghiên cứu côn trùng nói chung và bướm ngày (Lepidoptera: Rhopalocera) nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá diễn thế sinh thái và chất lượng sinh cảnh rừng. Bướm ngày là nhóm chỉ thị sinh học nhạy cảm đối với các biến đổi vi khí hậu và sự phân mảnh sinh cảnh do tác động của con người. Vườn quốc gia (VQG) Bidoup – Núi Bà thuộc tỉnh Lâm Đồng là khu vực có tính đa dạng sinh học cao với địa hình núi cao đặc trưng của vùng Tây Nguyên. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, các công trình khảo sát khu hệ bướm tại đây chủ yếu dừng lại ở việc lập danh lục thành phần loài bước đầu, còn thiếu các dữ liệu định lượng dài hạn về biến động quần thể theo sinh cảnh, theo mùa, theo thời gian hoạt động trong ngày, cũng như các yếu tố độ ẩm và nhiệt độ. Đồng thời, các dẫn liệu thực nghiệm về sinh học phát triển (trứng, sâu non, nhộng, bướm trưởng thành) và phổ cây chủ của các loài bướm quý hiếm tại địa bàn nghiên cứu chưa được ghi nhận đầy đủ để phục vụ công tác bảo tồn và nhân nuôi.

Mục đích của luận án là đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến biến động khu hệ bướm ngày, bổ sung dẫn liệu sinh học và tình trạng một số loài bướm quý, hiếm có nguy cơ bị đe dọa, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp bảo tồn bướm tại VQG Bidoup – Núi Bà.

Luận án thực hiện 03 yêu cầu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định thành phần loài, phân tích tính đa dạng loài bướm ở các sinh cảnh có thảm thực vật khác nhau tại VQG Bidoup – Núi Bà.
  2. Xác định dẫn liệu sinh học của một số loài bướm, đồng thời xác định ảnh hưởng của điều kiện thời tiết và tác động rừng đến biến động quần thể loài và biến động sự phong phú về cá thể của các loài trong quần xã bướm.
  3. Đề xuất biện pháp bảo tồn bướm ở VQG Bidoup – Núi Bà.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các loài bướm ngày trong 10 họ thuộc 2 tổng họ: bướm Phượng (Papilionoidea) và bướm Nhảy (Hesperioidea), bộ cánh Vẩy (Lepidoptera: Rhopalocera). Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại 4 dạng sinh cảnh chính (rừng tự nhiên, rừng tác động, trảng cỏ - cây bụi, đất nông nghiệp và khu dân cư) thuộc VQG Bidoup – Núi Bà với diện tích khoảng 64.800 ha (tọa độ từ 12°00'04" đến 12°52'00" vĩ độ Bắc và 108°17'00" đến 108°42'00" kinh độ Đông), kết hợp khảo sát đối chứng tại rừng đặc dụng Mã Đà thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai. Phạm vi thời gian khảo sát đa dạng và sinh thái học được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 11/2015 với 244 phiếu điều tra; đợt điều tra đối chứng tại Mã Đà tiến hành từ tháng 03/2014 đến tháng 12/2015; các nghiên cứu sinh học phát triển bướm được triển khai từ tháng 03/2015 đến tháng 06/2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu bướm trên thế giới và khu vực cho thấy nhiều công trình phân loại và sinh thái học quy mô đã được xuất bản, tiêu biểu như tài liệu bướm thế giới của Smart (1989), bướm Trung Quốc của Chou (1994), bướm Malaysia của Corbet và Pendlebury (1992), khu hệ Đông Phương – Úc của D’Abrera (1982–1986), và bướm Lào của Osada và cộng sự (1999). Về sinh học và sinh thái, các nghiên cứu của Igarashi (2001), Igarashi và Fukuda (1997–2000), Koiwaya (1996) đã mô tả vòng đời và xác định cây ký chủ của nhiều loài bướm nhiệt đới châu Á. Các đánh giá bảo tồn của New và Collins (1991) chỉ ra áp lực suy giảm quần thể họ bướm Phượng (Papilionidae) do mất sinh cảnh. Về sinh thái học quần xã, Thomas và Mallorie (1985), Lewis và cộng sự (1998), Schulze và cộng sự (2004), Bobo và cộng sự (2006) đã phân tích mối quan hệ giữa độ che phủ thực vật, mức độ xáo trộn rừng và độ cao địa hình với độ phong phú của bướm.

Tại Việt Nam, các dẫn liệu phân loại học đầu tiên được ghi nhận bởi Dubois và Vitalis De Salvaza (1919) với 611 loài thuộc 7 họ bướm Đông Dương, Metaye (1957) với 454 loài, Viện Bảo vệ Thực vật (1976) với 181 loài, và Mai Phú Quí cùng cộng sự với 161 loài. Giai đoạn từ năm 1990 đến nay ghi nhận các công trình danh lục chi tiết của Monastyrskii và Devyatkin (2003) với 994 loài bướm ngày, cùng bộ chuyên khảo bướm Việt Nam của Monastyrskii (2005, 2007, 2011) mô tả các phân họ Satyrinae, họ Papilionidae, phân họ Danainae và Amathusiinae. Các nghiên cứu đa dạng bướm tại các VQG và khu bảo tồn được thực hiện bởi Đặng Thị Đáp và Hoàng Vũ Trụ (2001, 2004), Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2001), Vũ Văn Liên (2002, 2005, 2008, 2011), Phạm Văn Lầm (2004), Đặng Ngọc Anh và Vũ Văn Liên (2006), Lương Văn Hào và cộng sự (2003), Lê Trọng Sơn và cộng sự (2008), Bùi Hữu Mạnh (2008, 2009), Đặng Việt Đài và Hoàng Đức Huy (2011), Lê Hải Sơn (2011), Nguyễn Thị Ngọc Nhung và Trương Xuân Lam (2014). Tại VQG Bidoup – Núi Bà, Bùi Xuân Phương (2005) ghi nhận 145 loài thuộc 11 họ, phát hiện loài Teinopalpus aureus thuộc Sách đỏ Việt Nam; Nguyễn Đăng Hội và Kuznetsov (2012) ghi nhận 127 loài (chưa tính họ Hesperiidae) với 7 loài và phân loài mới cho khoa học.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây tại Bidoup – Núi Bà chỉ khảo sát ngắt quãng để lập danh lục loài, chưa đi sâu phân tích định lượng sự biến động quần thể bướm theo các sinh cảnh khác nhau, theo nhịp điệu ngày đêm, theo diễn thế mùa và theo các tham số vi khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí). Hơn nữa, dữ liệu thực nghiệm về chu trình phát triển cá thể (trứng, ấu trùng, nhộng, bướm trưởng thành) và các loài thực vật ký chủ thực tế tại địa phương chưa được làm rõ. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng chuỗi dữ liệu thực địa có kiểm soát thống kê và bổ sung các dẫn liệu sinh học phục vụ bảo tồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hệ thống phân loại 9 họ truyền thống trong tổng họ bướm Phượng (Papilionoidea) bao gồm: Papilionidae, Pieridae, Danaidae, Satyridae, Amathusiidae, Nymphalidae, Libytheidae, Riodinidae, Lycaenidae, cùng 1 họ Hesperiidae thuộc tổng họ bướm Nhảy (Hesperioidea) để thuận tiện cho việc so sánh dữ liệu với các nghiên cứu trong nước, đồng thời cập nhật tên khoa học theo các tài liệu của Monastyrskii (2005, 2007, 2011), Bro Amnuay Pinratana (1981–1996) và Pisuth Ek-Amnuay (2012).

Phương pháp nghiên cứu sinh thái học áp dụng phương pháp điều tra theo tuyến cố định (Pollard walk) do Pollard và Yates (1993) đề xuất:

  • Thiết lập 11 tuyến khảo sát (ký hiệu từ B1 đến B11) đại diện cho các đai cao và sinh cảnh khác nhau tại VQG Bidoup – Núi Bà, định vị bằng máy GPS và thể hiện trên bản đồ số qua phần mềm MapInfo 12.0.
  • Người quan sát đi bộ với tốc độ chậm dọc tuyến, ghi nhận tất cả loài và cá thể xuất hiện trong phạm vi quan sát theo đơn vị thời gian 1 giờ/phiếu điều tra.
  • Các khảo sát được thực hiện tại 4 dạng sinh cảnh: Rừng kín tự nhiên (RTN), Rừng tác động (RTĐ), Cây bụi - trảng cỏ (TC), và Đất hoạt động nông nghiệp - khu dân cư (NN).
  • Điều tra theo khung giờ trong ngày từ 07h00 đến 17h00 (trọng tâm 09h00–16h00) để ghi nhận nhịp hoạt động; ghi nhận các thông số vi khí hậu gồm nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa.

Phương pháp nghiên cứu sinh học bướm:

  • Theo dõi thực địa tập tính tìm nơi đẻ trứng của bướm cái, chụp ảnh và thu thập mẫu trứng, sâu non và nhộng trên các loài cây thức ăn.
  • Tiến hành nhân nuôi thực nghiệm sâu non trong các hộp nhựa trong suốt có lỗ thông hơi và lồng lưới kích thước 30x30x30 cm và 50x50x50 cm, theo dõi thời gian qua các pha phát triển, kích thước hình thái và tỷ lệ phát triển.
  • Định danh mẫu bướm dựa trên tài liệu chuyên khảo; mẫu thực vật cây chủ được giám định bởi các chuyên gia thực vật thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Nhóm phương pháp / Chỉ số Công thức / Kỹ thuật áp dụng Mục đích sử dụng Phần mềm / Công cụ xử lý
Độ thường gặp (%) $\text{Tần suất} = \frac{\text{Số lần bắt gặp mẫu}}{\text{Tổng số lần điều tra}} \times 100$ Phân hạng loài hiếm ($<30%$), ít phổ biến ($30% - 60%$), phổ biến ($>60%$) Microsoft Excel
Độ giàu loài Jackknife ($\hat{S}$) $\hat{S} = s + \left(\frac{n-1}{n}\right)k$ Ước lượng tổng số loài tiềm năng và phương sai $\text{Var}(\hat{S})$ Primer ver.6, EstimateS V9.0
Độ tương đồng Bray-Curtis ($S'_{jk}$) $S'_{jk} = 100 \left[1 - \frac{\sum y_{ij} - y_{ik} }{\sum (y_{ij} + y_{ik})}\right]$
Kiểm định thống kê Phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) Đánh giá sai khác về số loài và số cá thể theo sinh cảnh, mùa, giờ trong ngày Microsoft Excel
Dụng cụ thực địa & lab Vợt côn trùng (cán 80–400 cm), giấy scan, hộp định hình, formalin 5%, tủ tiêu bản Thu mẫu, bảo quản tiêu bản và theo dõi vòng đời Phòng thí nghiệm Động vật học

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu và Tổng quan nghiên cứu

Chương này phân tích vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và lịch sử hình thành khu hệ sinh vật tại VQG Bidoup – Núi Bà. Vườn quốc gia có địa hình núi trung bình và núi cao hiểm trở, nằm ở phần cao nhất cuối cùng của dãy Trường Sơn với các đỉnh nổi bật như Bidoup (2.287 m) và Hòn Giao (2.060 m). Cấu trúc địa hình phân chia thành 3 bậc đai cao: bậc 1 (dưới 1.300 m), bậc 2 (khoảng 1.400–1.700 m) và bậc 3 (đỉnh trên 2.000 m). Nơi đây là đầu nguồn của hai hệ thống sông chính là Krông Knô (chảy về phía bắc sang Đắk Lắk) và Đa Nhim (chảy về phía tây nam). Khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa núi cao mát mẻ, biên độ nhiệt ngày đêm lớn (trên 9°C), lượng mưa trung bình năm đạt 2.800–3.000 mm, tập trung chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 10. Thảm thực vật rừng có độ che phủ đạt trên 90%, trong đó rừng lá rộng thường xanh và rừng hỗn giao lá rộng - lá kim chiếm hơn 60% diện tích, tạo nên nơi cư trú thuận lợi cho côn trùng.

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết cách thức bố trí 11 tuyến khảo sát thực địa tại VQG Bidoup – Núi Bà (tuyến B1: Đưng Iar Riêng, B2: K'Long K'Lanh, B3: Giang Ly, cùng các tuyến Cổng Trời, Hòn Giao, Bidoup...) với độ cao dao động từ 1.400 m đến trên 2.000 m. Quy trình thực hiện 244 phiếu điều tra sinh thái trong giai đoạn 2014–2015, kỹ thuật thu mẫu bằng vợt chuyên dụng, bảo quản tiêu bản khô và ướt, quy trình nuôi sâu bướm trong phòng thí nghiệm và ngoài thực địa được chuẩn hóa. Hệ thống công thức toán sinh học (Jackknife, Bray-Curtis) và các thuật toán kiểm định ANOVA được thiết lập để xử lý số liệu định lượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả tập trung phân tích cấu trúc khu hệ bướm, các quy luật sinh thái học và dữ liệu sinh học phát triển:

  1. Cấu trúc thành phần loài và độ giàu loài: Khảo sát đã định danh được 173 loài bướm ngày thuộc 10 họ tại VQG Bidoup – Núi Bà. Họ Nymphalidae chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng loài, tiếp theo là Pieridae, Lycaenidae và Papilionidae.
TT Họ bướm (Family) Số lượng loài ghi nhận Tỷ lệ thành phần (%)
1 Papilionidae 22 12,72%
2 Danaidae 15 8,67%
3 Pieridae 31 17,92%
4 Amathusiidae 1 0,58%
5 Nymphalidae 52 30,06%
6 Satyridae 21 12,14%
7 Libytheidae 1 0,58%
8 Riodinidae 2 1,16%
9 Lycaenidae 25 14,45%
10 Hesperiidae 9 5,20%
Tổng cộng 10 họ 173 loài 100,00%

Ước lượng độ giàu loài bằng thuật toán Jackknife cho thấy số loài tiềm năng tại Bidoup – Núi Bà dao động từ 192 đến 216 loài. Luận án đã bổ sung 108 loài mới cho danh lục bướm của khu vực, nâng tổng số loài tích lũy được ghi nhận từ trước đến nay tại VQG Bidoup – Núi Bà lên 264 loài. Về mức độ bảo tồn, nghiên cứu ghi nhận 02 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007 ở cấp Sẽ nguy cấp (VU) là Troides helena cerberus và Troides aeacus aeacus, cùng các loài có trong Sách đỏ Việt Nam 2000 như Graphium antiphates pompilius và Lamproptera curius curius.

  1. Biến động quần thể bướm theo sinh cảnh: Thành phần loài và tần số bắt gặp bướm có sự phân hóa rõ rệt giữa các sinh cảnh. Sinh cảnh rừng tự nhiên kín (RTN) ghi nhận số lượng loài và số cá thể cao nhất; tiếp theo là sinh cảnh rừng tác động (RTĐ) và trảng cỏ - cây bụi (TC); sinh cảnh đất nông nghiệp và khu dân cư (NN) có số loài và tần số xuất hiện thấp nhất. Kết quả phân tích phương sai ANOVA khẳng định sự khác biệt về tần số xuất hiện loài giữa các sinh cảnh có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$). Chỉ số tương đồng Bray-Curtis chỉ ra sự tương đồng cao giữa các sinh cảnh rừng liền kề và sai khác lớn so với vùng nông nghiệp.

  2. Biến động quần thể theo mùa và các yếu tố vi khí hậu:

  • Theo mùa và lượng mưa: Tần số xuất hiện loài và số lượng cá thể bướm tại Bidoup có xu hướng tăng cao vào mùa khô và giảm xuống trong mùa mưa lớn. Khác với các khu vực vùng thấp (như TàKóu hay Mã Đà thường có hiện tượng bùng phát số lượng đột biến vào thời điểm giao mùa), tại vùng núi cao Bidoup, thời điểm chuyển mùa không ghi nhận sự gia tăng đột biến về tần số cá thể do độ ẩm không khí duy trì ở mức cao quanh năm.
  • Theo thời gian trong ngày: Vào sáng sớm (07h00–09h00) và cuối buổi chiều (16h00–17h00), số lượng loài và tần số bắt gặp đều ở mức thấp. Hoạt động của bướm đạt đỉnh cao nhất trong khoảng thời gian từ 12h00 đến 14h00, tương ứng với điều kiện nhiệt độ ấm nhất và bức xạ ánh sáng mạnh nhất trong ngày.
  • Theo độ ẩm môi trường: Độ ẩm tối ưu cho hoạt động bay, tìm kiếm thức ăn và kết đôi của phần lớn các loài bướm tại Bidoup dao động trong khoảng từ 50% đến 60%. Khi độ ẩm không khí vượt quá 80%, hoạt động của các quần thể giảm rõ rệt.
  1. Dẫn liệu sinh học phát triển và cây thức ăn: Luận án hoàn thành theo dõi và lập hồ sơ sinh học phát triển của 31 loài bướm thuộc tổng họ Papilionoidea, bao gồm: họ Papilionidae (8 loài: Graphium agamemnon, G. antiphates, G. doson, Pachliopta aristolochiae, Papilio clytia, Troides aeacus...), họ Nymphalidae (13 loài: Acraea issoria, Ariadne merione, Cethosia cyane, Junonia hierta, Neptis hordonia, Parthenos sylvia, Polyura athamas...), họ Pieridae (6 loài: Appias libythea, Artogeia canidia, Pareronia anais...), họ Danaidae (3 loài: Danaus genutia...), và họ Satyridae (1 loài: Coelites nothis). Luận án ghi nhận mới 12 loài thực vật làm cây chủ cho 13 loài bướm tại Việt Nam.

  2. Đề xuất giải pháp bảo tồn: Trên cơ sở dẫn liệu sinh thái và sinh học, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp bảo tồn:

  • Bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng tự nhiên nguyên sinh và thảm thực vật cây chủ tự nhiên.
  • Ngăn chặn triệt để các hoạt động săn bắt bướm thương mại trái phép bên trong VQG.
  • Thiết kế và xây dựng mô hình vườn bướm (nhân nuôi bán tự nhiên kết hợp trồng cây thức ăn và cây hút mật) phục vụ bảo tồn nguồn gen quý hiếm, kết hợp nghiên cứu khoa học và giáo dục môi trường trong du lịch sinh thái.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại các đóng góp cụ thể về mặt học thuật và thực tiễn quản lý:

  • Đóng góp về khoa học: Cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về khu hệ bướm ngày tại VQG Bidoup – Núi Bà với 173 loài được định danh chính xác; bổ sung 108 loài mới cho danh lục VQG, nâng tổng số loài ghi nhận lên 264 loài; xác định vùng phân bố của 02 loài quý hiếm thuộc Sách đỏ Việt Nam 2007 (Troides helena cerberus và Troides aeacus aeacus). Luận án làm sáng tỏ quy luật phân bố theo sinh cảnh, tính chất biến động số lượng theo mùa, khung giờ hoạt động tối ưu trong ngày (12h00–14h00) và khoảng độ ẩm tối ưu (50%–60%) của bướm ngày ở đai núi cao Tây Nguyên.
  • Đóng góp về thực tiễn: Cung cấp hồ sơ vòng đời chi tiết của 31 loài bướm ngày và xác định bổ sung 12 loài thực vật làm cây chủ cho 13 loài bướm tại Việt Nam. Kết quả này tạo cơ sở khoa học trực tiếp cho việc nhân nuôi bảo tồn các loài bướm quý hiếm, kiểm soát sâu hại trong lâm nghiệp, đồng thời cung cấp bản vẽ thiết kế mô hình vườn bướm phục vụ phát triển du lịch sinh thái bền vững tại VQG Bidoup – Núi Bà.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do điều kiện địa hình núi cao chia cắt phức tạp và thời tiết sương mù mưa lớn kéo dài, các đợt khảo sát đối chứng tại Mã Đà cũng như việc theo dõi pha ấu trùng ngoài tự nhiên của một số loài phân bố trên tán cao chưa thể thực hiện liên tục quanh năm. Nhóm bướm Nhảy (Hesperiidae) và một số loài kích thước nhỏ thuộc họ Lycaenidae có tần suất bắt gặp thấp nên chưa thu thập đủ chu trình sinh học hoàn chỉnh.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào:

  • Tiếp tục mở rộng phạm vi điều tra vòng đời và cây thức ăn của các loài bướm còn lại trong khu hệ, đặc biệt là các loài đặc hữu hẹp ở đai cao trên 2.000 m.
  • Triển khai ứng dụng thử nghiệm mô hình vườn bướm nhân nuôi bán tự nhiên tại VQG để đánh giá khả năng duy trì quần thể các loài thuộc giống Troides và Papilio.
  • Nghiên cứu sâu hơn về vai trò của các loài bướm ngày như các chỉ thị sinh học định lượng phục vụ quan trắc biến đổi khí hậu dài hạn tại khu vực Tây Nguyên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao đối với:

  • Các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Sinh thái học, Côn trùng học, Động vật học và Quản lý tài nguyên rừng.
  • Ban quản lý các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên tại vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ trong công tác kiểm kê đa dạng sinh học và lập kế hoạch bảo tồn loài hoang dã.
  • Các nhà quản lý du lịch sinh thái và giáo dục môi trường quan tâm đến việc xây dựng mô hình vườn bướm phục vụ tham quan trải nghiệm.
  • Phần đáng tham khảo nhất bao gồm: Bảng danh lục 173 loài kèm độ thường gặp, hệ thống dẫn liệu sinh học vòng đời và danh mục các loài cây chủ thực vật mới được ghi nhận.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã ghi nhận tổng cộng bao nhiêu loài bướm tại VQG Bidoup – Núi Bà và bổ sung bao nhiêu loài mới?
Luận án đã ghi nhận và định danh được 173 loài thuộc 10 họ bướm ngày trong đợt khảo sát 2014–2015, bổ sung 108 loài mới cho danh lục VQG Bidoup – Núi Bà, nâng tổng số loài bướm ngày tích lũy từ trước đến nay tại khu vực này lên 264 loài.

2. Những loài bướm quý hiếm nào có tên trong Sách đỏ được tìm thấy trong nghiên cứu?
Luận án ghi nhận 02 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 ở cấp Sẽ nguy cấp (VU) là Troides helena cerberus và Troides aeacus aeacus (họ Papilionidae), cùng 02 loài ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam năm 2000 là Graphium antiphates pompilius và Lamproptera curius curius.

3. Hoạt động của bướm ngày tại Bidoup – Núi Bà đạt đỉnh vào khung giờ nào và khoảng độ ẩm bao nhiêu?
Thành phần loài, số lượng cá thể trung bình và tần suất xuất hiện của bướm ngày trong ngày đạt mức cao nhất vào khoảng từ 12h00 đến 14h00. Khoảng độ ẩm môi trường tối ưu cho sự xuất hiện và hoạt động của bướm là từ 50% đến 60%.

4. Luận án đã mô tả dữ liệu sinh học phát triển cho bao nhiêu loài bướm và ghi nhận bao nhiêu cây chủ mới?
Tác giả đã hoàn thành mô tả dẫn liệu sinh học (trứng, sâu non, nhộng, bướm trưởng thành) của 31 loài bướm thuộc tổng họ Papilionoidea, đồng thời ghi nhận mới 12 loài thực vật làm cây chủ cho 13 loài bướm tại Việt Nam.

5. Điểm khác biệt về biến động quần thể bướm theo mùa ở vùng núi cao Bidoup so với các khu vực vùng thấp là gì?
Tại vùng núi cao Bidoup – Núi Bà, tần số xuất hiện loài tăng vào mùa khô và giảm vào mùa mưa. Điểm đặc thù là thời điểm giao mùa không xuất hiện hiện tượng bùng phát gia tăng đột biến về số lượng loài và cá thể như ghi nhận tại các vùng thấp khác, nguyên nhân do nền ẩm độ ở vùng núi cao được duy trì quanh năm.

Kết luận

Luận án của tác giả Lê Hải Sơn đã cung cấp bức tranh hoàn chỉnh và định lượng về thành phần loài, cấu trúc khu hệ và đặc tính sinh thái của bướm ngày tại VQG Bidoup – Núi Bà với 173 loài được định danh và 108 loài bổ sung mới. Nghiên cứu đã xác lập mối tương quan giữa các yếu tố sinh cảnh, mùa, nhịp thời gian trong ngày và độ ẩm môi trường đối với biến động quần thể bướm ở đai núi cao Tây Nguyên. Hồ sơ sinh học phát triển của 31 loài bướm và danh mục 12 loài cây chủ mới ghi nhận là đóng góp thực nghiệm quan trọng cho khoa học côn trùng. Các giải pháp đề xuất về bảo vệ sinh cảnh tự nhiên và phát triển mô hình vườn bướm mang tính ứng dụng thực tế cao cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.