CHƯƠNG I: TONG QUAN 1,1. Tổng quan vùng nghiên cứu. LLL Vj ar va điều kiện địa lý ự nhiên Sông Mê Kông là một trong những con sông lớn nhất trên thể giới, bắt nguồn tử cao nguyên Tây Tang (Trung Quốc) chảy qua 6 nước (Trung Quốc, Lio, Myanmar, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam) trước khi đổ ra Biển Đông, với chiều dài sông chính và diện tích lưu vực lần lượt là 4.800 km và 795 000 km? [1, 2, 3, 4]. Lưu vực sông Mê Kông trải dài từ 9° đền 35° Vĩ Bắc và 93° đền 107° Kinh Đông (Hình 1.1) Lưu vực sông Mê Kông có thé chia thành 2 vùng chính là thượng lưu và hạ lưu (Hinh 1.
Ving thượng lew giới hạn từ nguồn sông kéo dài đến biên giới Trung “Quốc, Myanmar và Lào, với chiều dài sông chính trên 3.000 km, chiếm khoảng 24% diện tích toàn lưu vực và đóng góp khoảng 18% lượng nước chảy vio sông Mê Kông. “Trong vùng thượng lưu, lưu vực sông hẹp, dòng chảy mạnh, lòng sông hep và sâu, nhiều ghénh thác và chảy qua nhiều vùng núi cao có địa hình phức tạp. Xói mòn là một trong các vấn đề lớn ở vũng này, Ước tinh khoảng 50% tram tích trên sông Mê Kông bất nguồn từ ving thượng lưu. Lượng này theo đồng chảy di chuyển xuống hạ lưu, một phần bồi lắng trên sông, hay các bãi bồi ven sông trong quá trình di chuyển, một phần tích tụ trong hỗ Tonle Sap và phần còn lại bồi lắng ở các ving thuộc ‘ang bằng sông Cửu Long.
Vùng ha lin gi hạn từ Bắc Viendane (Lio) đến Biển Đông, có thể chi thành vũng giới hạn từ Bắc Vientiane (Lao) đến Stungtreng-Kratie (Campuchia) và vùng dng bằng giới hạn từ Kratie đến Biển Đông. = Ving giới han từ Bắc Vientiane (Lào) đến Suungtreng_Kratie (Campuchia) có chiều dài sông chính trên 750 km và chiếm khoảng 57% diện tích toàn lưu vue. Trong vũng này, sông chảy song song với dãy Trường Sơn băng qua một cao nguyén sa thạch không lồ với các tầng dia chất nằm ngang. Ở tả ngan, sông nhận nước từ các phụ lưu như sông Nam Re, Nim U, Nam Suông, Nam Ngừm, Nim Thung, Sẽ Bang Phai, Sẽ Bang Hiện, 3ê Đôn trong khi ở hữu ngạn, sông nhận nước từ phụ lưu Nam Mum (bao trầm cao nguyên Carat) và phụ lưu Ménam Xongkhram.
Đoạn này có hai thác rất lớn là thác Kemmarat (có dang một hẻm vựe) và thác Khone (rấ hiểm trở) Trong vùng giới hạn từ Bắc Vientiane (Lào) đến Stungtreng-Kratie (Campuchia) thuộc lãnh thổ Campuchia, sông Mê Kông nhận nước từ () các phụ lưu như sông SéKong, SéSan, Sérépok (từ Tây Nguyên Việt Nam d6 xuống ở tả ngạn) và (i) hỗ TonLe Sap (6 Tây Bắc Campuchia) đổ vào. TonLe Sap có chế độ sông hỗ, ở đây tổn tai một hỗ nước không lồ ở giữa ding TonLe Sap (với chiều dài 150 km và ngang nơi rộng nhất là 32 km) hay còn gọi là Biển HỒ. Diện tích mặt “ước hồ Tonle Sap thay đổi từ 3.500 km? trong các tháng mùa khô đến 14.500 km trong các thắng mùa lũ. Độ sâu dòng chảy hỗ TonLe Sap thay đổi từ 6 đến 9 sm (tong các thắngIX và X), trong kh đỏ độ sấu dòng chảy nhỏ nhất khoảng 0.
Với dung tích khoảng 60 tỷ m’, hỗ Tonle Sap có tác dụng rit lớn trong việc điều tiết ding chảy cho vùng Ding bằng sông Cứu Long, đồng thời đây cũng là nơi có nguồn thủy sin to lớn của Campuchia [3]. CAMPUCHIA em hi) = EL = Hình 1.1: Bản đồ ving Bing bằng sông Cửu Long và kh vực phụ cân Vào các tháng mia lũ, mực nước trên dòng chính sông Mê Kông cao hơn myc nước trong hỗ Tonle Sap, do đó nước từ dòng chính sông Mê Kông chảy ngược. một phin vào hỗ. Dang chảy ngược này như một quả trình điễu tiết tự nhiên giáp, làm giảm đảng kể lượng nước lũ chảy xuống Đồng bing sông Cửu Long và điều tiết lũ cho vùng hạ lưu hd.
Ngược hại, rong mùa kiệ, khi mực nước trong hồ Tonle Sap cao hơn mực nước trên sông chính thì nước từ hồ Tonle Sap lại chảy. ra đồng chính sông Mé Kông và tiép tục chảy vào sông Tiên và sông Hậu, cung cắp nước cho tưới và giúp giảm xâm nhập mặn vào sâu trong đất iễn trong vũng Đồng bằng sông Cứu Long vào mùa khô 3] ~ Ving đồng bằng giới hạn từ Kratie dén Biển Đông có chiều dài sông chính và diện tích lần lượt là 450 km và 5,5 triệu ha, với địa hình bằng phẳng. Lưu ý ring, từ Phnom Pênh (Campuchia), sông Mê Kông chia thành hai nhánh chính (li sông Tiền và sông Hậu) cháy vào nước ta. Ở đồng bằng sông Cit Long, sông Tién và xông Hậu lại tiếp tục mỡ rộng dẫn và thoát ra Biển Đông qua 8 cửa (Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Của Cung liễu, Của Định Anh và Cửa Trần Đề), Lưu vực sông Mẽ Kông được biết đến là quê hương của khoảng 70 triệu người 100 din tộc khác nhau thuộc 6 nước sinh sống và là một trong những vũng da dạng văn hoá nhất trên thể giới.
Ngoài nguồn tải nguyên nước dBi dio, lưu vực sông Mê Kông có tiềm năng thuỷ điện, nguồn lợi thuỷ sản, đt đai và thảm phủ thực vật phong phú. Ngoài ra, sông Mê Kông được đánh giả là khu vực có mức độ đa dang sinh. học cao so với nhiễu khu vực kháctrên th giới [3]. Lưu vực là nơi sản xuất một lượng: lúa gạo dit nuôi sng 300 triệu người trong năm và là một tron những vùng có sản lượng cá nước ngọt lớn nhất trên th giới.
Trong lưu vực có trên 769 loài cá sinh sống độ dòng chảy dao động theo mùa đã cưng cắp môi trường và thức ăn cho các loài động vật thuỷ sinh của lưu vực Mặc dù được đánh giá là con sông có nguôn tài nguyên thiên nhiên phong phú và «6 mức độ đa dạng sinh học cao, lưu vực sông Mé Kông vẫn được xem là khu vục cổ nền kinh tế kém phát trién và tỷ lệ đói nghèo cao. Hiện nay, tắt củ các nước trong lươ vite Mê Kông đều tim cách đẫy mạnh phát triển kinh t, kế cả việc tìm cách khai thác ngày càng nhiễu các lợi thế về tải nguyên nước và các tài nguyên liên quan của lưu vực Mê Kông va coi đó là biện pháp cần thiết dé vượt qua nghèo đói. Một trong những. ch phát triển và sử dụng nguồn tii nguyên nước không bin vũng có nguy cơ đe ddoa môi trường ~ đa dạng sinh học và sinh ké của hàng trigu người dân ven sông- ninh lương thực và an ninh quốc gia và khu vực, nhất là đối với khu vực vùng đồng bằng hạ lưu thuộc lãnh thé của nước ta (hay còn được biết đến với tên gọi là Đồng Bing sông Cửu Long ng sông Cứu Long, nằm trọn trong vũng đồng bằng hạ lưu sông Mé ố lần lượt khoảng 40.576 km? và 17,5 triệu người thuộc 13 tinh và thành phố (Long An, Bến Tre, Tiên Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, ‘Vinh Long, Trà Vinh, Tho, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu va Cà Mau).
Trong số 13 tinh và thành phố viing Đồng bằng sông Cửu Long có 2 tinh nằm trong vũng kinh tẾ trong điểm phía Nam (Tin Giang và Long An) và 4 tỉnh nằm trong vùng kinh 1É trong điểm ving Đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và “i Mau). Thế mạnh của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long chủ yếu là nông nghiệp, đặc biệt à lúa nước (với sản lượng lần nước của vùng chiếm Khoảng 57% của cả nước) và môi trồng, chế biến thủy sản 1-12 Đặc diém địa hình: Địa hình khu vực hạ lưu vực khu vực sông Mê Kông khá là phong phú, 20 địa hình tại ha lưu vực là đổi núi, độ cao khoảng trên 1,000m đến 2.000 so với mặt nước biển. Địa bình cao tập trung tại vị trí đường biên giới giữa Trung Quốc, Lào và My- anma, Hạ lưu sông tại Campuchia, Thái Lan và Việt Nam đa số là đồng bằng. Phin chủy trên lãnh thổ Trung Quốc tương đổi cao, phổ bin trên 1.000 m, địa hình sông đốc đứng.
Phin qua Lào va Thái Lan có địa hình bình nguyên với cao độ từ 100 đến. Phin hạ lưu thuộc Campuchia và Việt Nam địa hình phỏ biển từ 2-50m [3,4]. “Theo bản đỗ địa hình, địa hình lòng sông Mê Kông từ thượng nguồn, phần qua lãnh thé Trung Quốc là tương đối đốc, từ độ cao 4.500 m giảm xuống còn 400 m trên tổng chiều dai khoảng 2. Phần qua Lao, Thái Lan và Campuchia đến thượng lưu Kratie cao độ lòng sông giảm dẫn từ 400 m xuống còn 10 m.
Phin hạ lưu Kraie ra biển độ dốc thấp, lòng sông mở rộng dẫn từ 1.000 m, phiin qua Việt Nam có độ đốc ngược (Hình 1.3) Đồng bing sông Cửu Long là vùng đồng bằng khá bằng phẳng và hơi thấp, cao độ phổ biến từ (0,3+2,0)m, trừ một số đổi núi ở phía Tây Bắc thuộc tỉnh An Giang, Kiên Giang, toàn bộ. đất đai còn lại có cao độ dưới 5 m. Ngoài ra còn có những gờ đất ven sông và cn ít en biển tương đố ao, hai vùng ting nhất à Đồng Thấp Mười Và Tế Gide Long Xuyên, Bo ign tập với một số nh nhỏ, các Mi biện ngập nước ải triều lên. Vũng đồng bằng sông Cửu Long là một miễn tring Kainozoi Mê Kông.
được lắp dy chủ yéu bằng các tim tích hỗn hợp sông biển, Đồng bing còn có các trim tích có nguồn gốc khác nhau như bồi tích, trằm tích trên các giếng cất e6 nguồn sốc biển, tram tích nguồn gốc hỗ và trim tích hỗn hợp đầm lẫy - sông va dim lẫy - “Trong đồng bằng sông Mê Kông cỏ năm nhỏm dit chỉnh: đất phèn, đắt mặn, đ phủ sa, đất xâm và đắt cát ở các "giồng” cát ven sông và ven biỂn còn có một số đất Khác như đất đỏ vàng, than bùn Hinh1.2:Bảđồtéhiệnịaìvàgtínhoá ‘Mekong River Profile from Headwaters to Mouth Hinh 1.3: Sơ how độ đốc dọc sông Mê Kông tử nguén 1.3 Địa chất, thé nhưỡng. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng cực nam của Việt Nam, còn được. sọi là Vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc Vùng Tây Nam Bộ, là một bộ phận của châu thổ sông Mé Kông, hình thành từ trim tích phù sa và bai dẫn qua những kỷ nguyễn thay đổi mực nước biển. Việc tim hiễu rõ về đặc điểm địa chất vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rit có ý nghĩa, nhằm tìm ra mỗi quan hệ giữa các diễn biến x6 lơ bồi tạ bd sông và bở bi với ác yếu tổ địa chất của vùng.
Các phân vị địa chất ở ĐBSCL có tuổi từ Devon đến Holocen.