Tổng quan nghiên cứu

Độ che phủ rừng tại Việt Nam từng trải qua giai đoạn suy giảm nghiêm trọng khi diện tích rừng giảm mạnh từ 181.500 km2 (tương đương 55% diện tích tự nhiên) vào cuối những năm 1960 xuống còn 56.680 km2 (xấp xỉ 17%) vào cuối những năm 1980. Trong giai đoạn 1976-1990, trung bình mỗi năm cả nước mất đi khoảng 185.000 ha rừng tự nhiên. Trước thực trạng khẩn thiết đó, Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (Dự án 661) theo Quyết định số 661/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được triển khai với mục tiêu phục hồi vốn rừng, nâng độ che phủ quốc gia từ 28% (xấp xỉ 9 triệu ha) lên 43% (14,3 triệu ha) vào năm 2010.

Mường Pồn là xã vùng cao biên giới đặc biệt khó khăn của huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, sở hữu diện tích tự nhiên 12.517,15 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 7.833,62 ha (tương đương 62,58%). Đời sống của hơn 3.800 nhân khẩu thuộc 786 hộ gia đình chủ yếu phụ thuộc vào canh tác nương rẫy và tài nguyên rừng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá tính bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường của Dự án 661 sau hơn một thập kỷ triển khai, đồng thời giải quyết bài toán xung đột lợi ích giữa bảo vệ rừng phòng hộ và áp lực chuyển đổi đất sang cây công nghiệp thương mại.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung tổng kết kết quả thực hiện Dự án 661 tại xã Mường Pồn từ năm 2000 đến năm 2010; định lượng các tác động đa chiều về thu nhập hộ gia đình, chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, năng lực giữ nước và chống xói mòn; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng bền vững giai đoạn hậu dự án. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bộ dữ liệu thực chứng minh chứng cho sự gia tăng độ che phủ rừng từ 33,38% năm 2000 lên 47,14% năm 2010, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc thực thi các chương trình mục tiêu quốc gia về lâm nghiệp tại vùng Tây Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Quản lý rừng bền vững (Sustainable Forest Management) kết hợp với Khung đánh giá tác động tổng hợp đa chiều về Kinh tế - Xã hội - Môi trường theo chuẩn mực của FAO (1990, 1997). Khung lý thuyết này khẳng định một dự án lâm nghiệp chỉ đạt tính bền vững khi dung hòa được lợi ích tài chính của người dân, bảo đảm công bằng xã hội và duy trì tối đa các chức năng sinh thái rừng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp Lý thuyết Phân tích kinh tế động các dự án đầu tư lâm nghiệp của Lyn Squire và DK. Paul. Do chu kỳ sản xuất lâm nghiệp kéo dài 10-20 năm, việc đánh giá hiệu quả đầu tư được thực hiện thông qua hệ thống ba chỉ tiêu chiết khấu tài chính gồm: Giá trị hiện tại thuần (NPV), Tỷ số lợi ích trên chi phí (BCR), và Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR). Nghiên cứu chuẩn hóa 4 khái niệm cốt lõi: Khoán bảo vệ rừng theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg; Khoanh nuôi phục hồi tái sinh tự nhiên; Rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu; và Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa số liệu thứ cấp từ các văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết 08/1997/QH10, Nghị quyết 73/2006/QH11, Quyết định 164/2008/QĐ-TTg) cùng báo cáo kiểm kê đất đai của tỉnh Điện Biên giai đoạn 1998-2010, và nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại hiện trường.

Nghiên cứu xác định cỡ mẫu gồm 90 hộ gia đình tại 3 bản đại diện cho 3 nhóm dân tộc chính: bản Mường Pồn II (30 hộ người Thái), bản Pá Chá (30 hộ người H'Mông), và bản Tin Tốc (30 hộ người Khơ Mú). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống được áp dụng, phân bổ đồng đều 15 hộ trung bình và 15 hộ nghèo ở mỗi bản nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho cấu trúc kinh tế - xã hội địa phương. Nghiên cứu sử dụng các công cụ đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA), bao gồm phỏng vấn bán định hướng 90 chủ hộ, phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm, và tổ chức các nhóm thảo luận tập trung từ 3 đến 5 người.

Về phương pháp thực nghiệm sinh thái, tác giả thiết lập hệ thống ô tiêu chuẩn diện tích 500 m2 (kích thước 20m x 25m) để đo đếm đường kính thân cây (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) và độ tàn che. Đồng thời, các ô dạng bản được bố trí để khảo sát mật độ cây tái sinh và độ che phủ tầng cây bụi thảm tươi. Đánh giá xói mòn đất áp dụng mô hình toán học tính toán cường độ bào mòn dựa trên chỉ số xói mòn mưa K kết hợp độ dốc mặt đất và độ xốp của mẫu đất thu bằng ống dung trọng 100 cm3. Khả năng sinh thủy và điều tiết dòng chảy được lượng hóa qua công thức cân bằng nước của Vưxopsky (1937):

W = P0 - (Eb + T + S)

Trong đó W là lượng nước thấm vào đất, P0 là lượng mưa trung bình năm đạt 1.583,1 mm, Eb là lượng bốc hơi mặt đất, T là lượng thoát hơi qua thảm thực vật, và S là dòng chảy bề mặt. Tiến trình thu thập số liệu và điều tra thực địa được triển khai liên tục từ tháng 01/2011 đến tháng 09/2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Dự án 661 tạo nên bước đột phá về phục hồi diện tích rừng và tăng độ che phủ sinh thái. Tại xã Mường Pồn, độ che phủ rừng tăng liên tục từ 33,38% năm 2000 lên mức 47,14% vào năm 2010 (tăng 13,76%). Tốc độ tăng trưởng che phủ cao nhất diễn ra trong giai đoạn 2000-2003, đỉnh điểm đạt mức tăng 3,25% trong năm 2003 nhờ triển khai mạnh mẽ công tác khoanh nuôi phục hồi rừng. Lũy kế 11 năm, toàn xã đã thực hiện khoán bảo vệ thành công 4.888,7 ha rừng trên tổng số 5.785 ha theo kế hoạch giao, đạt tỷ lệ hoàn thành 84,51%.

Thứ hai, tác động bảo vệ môi trường và cải thiện tài nguyên đất, nước thể hiện rõ nét qua các chỉ tiêu định lượng. Lượng nước thấm vào đất dưới thảm tán rừng trồng và rừng khoanh nuôi tái sinh đạt giá trị vượt trội so với đất trống đồi núi trọc. Cường độ xói mòn đất tại các mô hình rừng có tầng thảm mục dày giảm từ hàng chục tấn/ha/năm xuống chỉ còn mức không đáng kể (dưới 1-2 mm/năm). Phân tích phẫu diện thổ nhưỡng khẳng định đất dưới tán rừng có độ pH cân bằng hơn, hàm lượng mùn tổng số, đạm và kali dễ tiêu cao hơn hẳn so với đối chứng đất trống thoái hóa.

Thứ ba, về mặt kinh tế và xã hội, dự án huy động 620 hộ gia đình tham gia (chiếm 78,88% tổng số hộ toàn xã). Nguồn vốn hỗ trợ bảo vệ rừng tăng từ 50.000 đồng/ha/năm lên 100.000 đồng/ha/năm từ năm 2006, cùng mức hỗ trợ trồng rừng phòng hộ nâng dần từ 2,5 triệu đồng lên 10 triệu đồng/ha năm 2008 theo Quyết định 164/2008/QĐ-TTg. Các mô hình nông lâm kết hợp đều thể hiện tính khả thi tài chính với NPV dương và BCR lớn hơn 1. Tỷ lệ phụ nữ tham gia các khâu ươm cây giống, chăm sóc và tuần tra rừng duy trì ổn định ở mức 30-45%, góp phần củng cố bình đẳng giới tại vùng đồng bào thiểu số.

Thảo luận kết quả

Giai đoạn đầu (2000-2003) ghi nhận tốc độ tăng trưởng độ che phủ ấn tượng do quỹ đất gần khu dân cư còn dồi dào và các trạng thái rừng phục hồi (IIa, IIb, Ic) phản ứng nhanh với biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng có dấu hiệu chững lại từ năm 2006 (chỉ tăng khoảng 0,8 - 1,19% mỗi năm). Nguyên nhân chính là do quỹ đất lâm nghiệp thuận lợi dần cạn kiệt, địa hình ngày càng xa xôi hiểm trở, suất đầu tư thực tế cho trồng rừng sản xuất (2 triệu đồng/ha) chưa đủ bù đắp ngày công lao động.

Đặc biệt, sự xuất hiện của phong trào trồng cây cao su từ năm 2007 tại tỉnh Điện Biên với diện tích mở rộng 261 ha tại xã Mường Pồn đã tạo nên sự cạnh tranh gay gắt về tư liệu sản xuất. Thu nhập kỳ vọng cao hơn từ cao su khiến một bộ phận người dân có xu hướng chuyển đổi diện tích rừng nghèo sang cây công nghiệp. Các phân tích tương quan này có thể được mô hình hóa trực quan qua đồ thị đường biểu diễn mức tăng độ che phủ rừng hàng năm đặt cạnh biểu đồ cột thể hiện biến động diện tích nương rẫy và diện tích trồng cao su. Đồng thời, bảng số liệu so sánh đa chỉ tiêu về độ phì đất và độ dày tầng xói mòn giữa 3 trạng thái rừng trồng, rừng tự nhiên và đất trọc sẽ làm sáng tỏ giá trị bảo tồn đất vượt trội của thảm phủ lâm nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa các thành quả sinh thái và bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân xã Mường Pồn sau khi Dự án 661 khép lại, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất:

Thứ nhất, nâng cao mức hỗ trợ tài chính và vận hành chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cần áp dụng Nghị định số 99/2010/NĐ-CP để nâng mức chi trả khoán bảo vệ rừng từ 100.000 đồng/ha/năm lên tối thiểu 350.000 - 400.000 đồng/ha/năm trong giai đoạn 2012-2015. Việc này bảo đảm nguồn thu thường xuyên, bù đắp chi phí cơ hội cho 620 hộ nhận khoán.

Thứ hai, hoàn thiện công tác giao đất giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường tiến hành rà soát, đo đạc và bàn giao thực địa 7.833,62 ha đất lâm nghiệp, hoàn thành cấp 100% Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) cho các cộng đồng bản và hộ gia đình cá nhân trước năm 2014, tạo tâm lý an tâm đầu tư lâu dài.

Thứ ba, kiểm soát nghiêm ngặt quy hoạch chuyển đổi cây cao su và bảo vệ rừng đầu nguồn. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Chi cục Kiểm lâm Điện Biên thiết lập ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt đối với 5.937,61 ha rừng phòng hộ xung yếu ven lưu vực sông Nậm Ti và Nậm Pồn; kiểm soát chặt quy mô 261 ha cao su hiện có, tuyệt đối không cho phép phát trắng rừng tự nhiên tái sinh để trồng cao su tự phát giai đoạn 2012-2020.

Thứ tư, phát triển các mô hình lâm sản ngoài gỗ và canh tác nông lâm kết hợp đa tầng. Trạm Khuyến nông - Khuyến lâm huyện Điện Biên chủ trì chuyển giao kỹ thuật trồng xen cây bản địa có giá trị kinh tế cao (Mỡ, Trẩu, Luồng, Thông) kết hợp dược liệu dưới tán rừng cho 786 hộ dân, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng thu nhập từ kinh tế rừng trong cơ cấu thu nhập hộ lên 25-30% vào năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham chiếu thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách lâm nghiệp: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Lâm nghiệp và Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng các tỉnh Tây Bắc có thể khai thác bộ dữ liệu thực chứng để điều chỉnh chính sách giao khoán, định mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng và quy hoạch 3 loại rừng cấp huyện, xã.
  2. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về khung phương pháp luận kết hợp giữa điều tra xã hội học PRA và thực nghiệm sinh thái định lượng (phân tích xói mòn đất, đo thủy văn theo Vưxopsky, và tính toán chỉ số tài chính NPV, BCR, IRR).
  3. Ban quản lý rừng phòng hộ và các tổ chức phi chính phủ (NGOs): Các đơn vị quản lý dự án phát triển nông thôn miền núi có thể áp dụng các bài học kinh nghiệm về phương thức huy động sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số (Thái, H'Mông, Khơ Mú) và thúc đẩy bình đẳng giới trong quản trị tài nguyên rừng cộng đồng.
  4. Chính quyền địa phương cấp cơ sở (UBND cấp huyện và xã vùng cao): Lãnh đạo cấp xã có thể ứng dụng trực tiếp các giải pháp quản lý 7.833,62 ha đất lâm nghiệp, xây dựng hương ước bản gắn với bảo vệ rừng và lồng ghép tiêu chí môi trường vào chương trình xây dựng nông thôn mới.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu cốt lõi của Dự án 661 tại địa bàn xã Mường Pồn là gì? Dự án nhằm khoanh nuôi bảo vệ trên 5.000 ha rừng tự nhiên phòng hộ, trồng mới 819 ha rừng (gồm 513 ha rừng phòng hộ và 306 ha rừng sản xuất), nâng cao độ che phủ sinh thái, chống xói mòn đất và tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho 620 hộ dân tham gia quản lý nghề rừng.

Độ che phủ rừng tại xã Mường Pồn biến động ra sao sau 11 năm triển khai dự án? Độ che phủ rừng của xã tăng trưởng liên tục từ 33,38% năm 2000 lên 47,14% vào năm 2010 (tăng ròng 13,76%). Trong đó, giai đoạn 2000-2003 có tốc độ tăng nhanh nhất, riêng năm 2003 tăng 3,25% nhờ các diện tích rừng khoanh nuôi bảo vệ sớm khép tán và phục hồi nhanh.

Phương pháp nào được sử dụng để định lượng tác động sinh thái và môi trường? Tác giả thiết lập hệ thống ô tiêu chuẩn 500 m2 để điều tra cấu trúc tầng cây gỗ, đào phẫu diện đất phân tích các chỉ tiêu hóa lý, sử dụng phương trình toán học tính xói mòn dựa trên chỉ số mưa K và áp dụng công thức cân bằng nước Vưxopsky để đo lượng nước ngấm vào đất.

Đâu là rào cản lớn nhất đối với hoạt động trồng rừng tại xã Mường Pồn? Rào cản chính gồm: mức hỗ trợ trồng rừng sản xuất ban đầu thấp (2 triệu đồng/ha), tiền công bảo vệ rừng giải ngân chậm, thiếu đất canh tác nông nghiệp và sự xuất hiện cạnh tranh quỹ đất của dự án trồng 261 ha cây cao su từ năm 2007.

Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát hộ gia đình được thực hiện thế nào? Nghiên cứu khảo sát 90 hộ gia đình tại 3 bản đại diện cho 3 dân tộc: Mường Pồn II (Thái), Pá Chá (H'Mông), và Tin Tốc (Khơ Mú). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống bảo đảm phân tầng chuẩn xác 50% hộ nghèo và 50% hộ trung bình.

Kết luận

  • Dự án 661 tại xã Mường Pồn đã nâng độ che phủ rừng từ 33,38% lên 47,14% sau 11 năm, thực hiện khoán bảo vệ thành công 4.888,7 ha rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu.
  • Dự án giảm thiểu rõ rệt lượng đất bị xói mòn trôi rửa, gia tăng dung tích trữ ẩm và bảo vệ nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất ven sông Nậm Ti và Nậm Pồn.
  • Thu hút 620 hộ gia đình thuộc 3 cộng đồng dân tộc Thái, H'Mông, Khơ Mú tham gia nhận khoán, nâng cao nhận thức quản lý rừng cộng đồng và thúc đẩy vai trò của phụ nữ trong lâm nghiệp xã hội.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các hạn chế về suất đầu tư thấp, nguy cơ chuyển đổi 261 ha đất lâm nghiệp sang trồng cao su, và khoảng trống chính sách khi dự án kết thúc.
  • Luận văn đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện từ điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng, hoàn thiện cấp sổ đỏ đất lâm nghiệp đến nhân rộng sinh kế nông lâm kết hợp bền vững.

Trong giai đoạn 2012-2020, các cấp quản lý cần nhanh chóng chuyển tiếp cơ chế tài chính sang Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, lồng ghép bảo vệ rừng với các Chương trình mục tiêu quốc gia nhằm duy trì ổn định diện tích rừng hiện có. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và địa phương vùng Tây Bắc nên tham khảo, ứng dụng triệt để những kết quả thực chứng và khuyến nghị chuyên môn từ luận văn này vào thực tiễn phát triển lâm nghiệp bền vững.