Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng và vai trò của đô thị 1. Khái niệm đô thị Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện [10].
Theo khái niệm tại Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17/6/2009: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thỗ một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn” [13]. Trong khoa học về đô thị, người ta dùng hai tiêu chí để xác định một khu vực là dân cư đô thị, đó là độ kết tủa và ngưỡng dân số. Độ kết tụ biểu hiện mức độ tập trung các công trình nhà ở. Một khu vực nào đó được gọi là đô thị khi các công trình và nhà ở nằm kề nhau.
Tuy nhiên mức độ kề nhau như thế nào là tùy vào điều kiện của mỗi nước. Ví dụ: Ở Pháp, một ngôi nhà được coi là thuộc đô thị loại A nếu nó cách ngôi nhà gần nhất thuộc A không quá 200m. Ngưỡng dân số là số dân tối thiểu cư trú trong ranh giới đô thị (được xác định bằng độ kết tụ nêu trên). Cũng ở Pháp, một điểm dân cư được coi là đô thị khi số dân ≥ 2000 người [4].
Trên góc độ quản lý kinh tế - xã hội, đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là hoạt động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện [15]. Nói tóm lại, về mặt xã hội, đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc và dân số, mức sống cao hơn, các cở sở vật chất hạ tầng tiện nghi đầy đủ hơn khác với khu vực xung quanh nó. Về mặt kinh tế, đô thị có hoạt động sản xuất chính là công nghiệp và dịch vụ. Vì vậy, khi nói đến đô thị là đề cập đến các vấn đề cơ PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 bản cấu thành nên đô thị như quy mô, mật độ dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, hình thức lao động và tính hiện đại của cơ sở hạ tầng và vai trò của đô thị đối với vùng và cả nước.
Chức năng của đô thị Chức năng của đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. Các chỉ tiêu thể hiện chức năng của một đô thị gồm: * Vị trí của đô thị trong hệ thống đô thị cả nước Vị trí của một đô thị trong cả nước phụ thuộc vào cấp quản lý đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như: đô thị là trung tâm cấp quốc gia (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh), đô thị là trung tâm cấp vùng (Vinh là đô thị trung tâm của Bắc Trung Bộ, Đà Nẵng là đô thị trung tâm của Nam Trung Bộ, Cần Thơ là đô thị trung tâm của Đồng bằng Sông Cửu Long,.), đô thị là trung tâm cấp tỉnh (Huế là đô thị trung tâm của tỉnh Thừa Thiên Huế, Biên Hòa là đô thị trung tâm của tỉnh Đồng Nai, Thanh Hóa là đô thị trung tâm của tỉnh Thanh Hóa,.), đô thị là trung tâm cấp huyện (Phú Bài là đô thị trung tâm của huyện Hương Thủy - Thừa Thiên Huế,.) hoặc đô thị là trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện). Ngoài ra, theo tính chất một đô thị có thể là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành của một hệ thống đô thị. Đô thị là trung tâm tổng hợp khi có chức năng tổng hợp về nhiều mặt như: Hành chính - chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học, công nghệ, an ninh - quốc phòng,.
Ví dụ: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội. Đô thị là trung tâm chuyên ngành khi có một vài chức năng nào đó nổi trội hơn so với các chức năng khác và giữ vai trò quyết định tính chất của đô thị đó như: đô thị du lịch - nghỉ mát (Huế, Nha Trang, Hạ Long), đô thị công nghiệp (Thái Nguyên, Biên Hòa), đô thị cảng (Hải Phòng),. Xét về yếu tố điều kiện tự nhiên, vị trí phân bố không gian của đô thị thường là những nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đô thị đó như: vị trí địa lý thuận lợi, ít có thiên tai, hệ thống giao thông thuận lợi,. * Các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội của đô thị Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của một đô thị gồm: Tổng thu ngân sách trên địa bàn (tỷ đồng/năm), không kể ngân sách của Trung ương trên địa bàn và ngân sách của cấp trên cấp cho.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Thu nhập bình quân đầu người: GNP/người/năm. Cân đối thu - chi ngân sách. Mức tăng trưởng kinh tế trung bình năm (%). Mức tăng dân số trung bình hàng năm (%).
Tỷ lệ các hộ nghèo (%). Các chỉ tiêu về kinh tế của một đô thị cao gấp nhiều lần so với khu vực nông thôn và chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế của cả địa bàn lãnh thổ đó. * Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp Lao động phi nông nghiệp của đô thị: là lao động trong khu vực nội thị thuộc các ngành kinh tế quốc dân như: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công cộng, du lịch, khoa học, giáo dục (học sinh, sinh viên không tính trong lực lượng lao động), văn hoá, nghệ thuật, y tế, bảo hiểm, thể thao, tài chính, tín dụng, ngân hàng, quản lý nhà nước và lao động khác không thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp. * Hệ thống công trình hạ tầng đô thị a) Hệ thống công trình hạ tầng xã hội gồm: nhà ở, các công trình dịch vụ, thương mại, y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác.
b) Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm: giao thông, cấp điện và chiếu sáng công cộng, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, công viên cây xanh, xử lý các chất thải, nghĩa trang, thông tin, bưu chính viễn thông. Khi xây dựng các trục giao thông chính của đô thị phải đảm bảo đầu tư đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật khác như: cấp nước, thoát nước, thông tin, bưu chính viễn thông, cấp điện, chiếu sáng, cây xanh. Khu vực ngoại thị phải được đầu tư xây dựng theo quy hoạch được duyệt đảm bảo sự đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tại các khu dân cư; mạng hạ tầng khung kết nối nội, ngoại thị và vùng xung quanh; các công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối; bảo vệ cảnh quan sinh thái và vùng ưu tiên phát triển nông nghiệp. * Kiến trúc, cảnh quan đô thị Kiến trúc, cảnh quan đô thị được đánh giá căn cứ các chỉ tiêu sau: - Đã có quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc từng khu vực đô thị được duyệt.
Việc xây dựng phát triển đô thị phù hợp và tuân thủ quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 - Có khu đô thị mới đã xây dựng đồng bộ; có khu đô thị mới được công nhận là khu đô thị mới kiểu mẫu, khu cải tạo chỉnh trang đô thị có các khu nhà ở, khu phố. - Có các tuyến phố văn minh đô thị. - Có các không gian công cộng của đô thị.
- Có công trình kiến trúc tiêu biểu, công trình lịch sử văn hóa, di sản, danh thắng có ý nghĩa quốc gia, quốc tế hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hội nghề nghiệp hoặc các tổ chức quốc tế công nhận [3]. Vai trò của đô thị Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hóa. Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, có khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học kỹ thuật của khu vực và trên thế giới. Phân loại đô thị Ở Việt Nam đô thị được chia làm 6 loại với các chức năng khác nhau như sau: * Đô thị loại đặc biệt Đô thị là Thủ đô hoặc có chức năng là trung tâm kinh tế, tài chính, hành chính, khoa học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên. Mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: Khu vực nội thành: được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh, bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường đô thị, 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường.