Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam đang thúc đẩy tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trên khắp cả nước. Quy mô dân số đô thị đã gia tăng liên tục từ 21,5% vào năm 1975 lên 30,5% vào năm 2010 và được dự báo đạt khoảng 40% vào năm 2020 với trên 45 triệu người sinh sống tại khu vực thành thị. Đi kèm với tiến trình này là việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên diện rộng, phục vụ xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, công tác thu hồi đất trên cả nước đã tác động trực tiếp đến đời sống của 627.495 hộ dân với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu nhân khẩu bị ảnh hưởng; tính bình quân cứ 1 hecta đất nông nghiệp bị thu hồi thì có 10 lao động nông thôn mất việc làm.

Quận Hải An, thành phố Hải Phòng được thành lập năm 2003 với tổng diện tích tự nhiên 10.484,29 ha và quy mô dân số năm 2010 đạt 104.070 người. Trong giai đoạn 2005-2010, quận đã chuyển đổi 538,15 ha đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp để triển khai các công trình trọng điểm. Trong đó, Dự án xây dựng Khu đô thị mới quận Hải An do Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Phát triển nhà làm chủ đầu tư có tổng diện tích quy hoạch 119.187,46 m2 trên địa bàn hai phường Đằng Hải và Đông Hải 2. Trong tổng diện tích giải tỏa, có 80.476,1 m2 đất nông nghiệp giao theo Nghị định 03/CP và 15.290,5 m2 đất nông nghiệp do tư nhân tự quản lý bị thu hồi hoàn toàn.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp và giải phóng mặt bằng tại dự án đến sinh kế, việc làm, cơ cấu thu nhập và biến đổi tài sản của người dân. Trên cơ sở phân tích thực trạng tại phường Đằng Hải, luận văn đề xuất các nhóm giải pháp chính sách mang tính thực tiễn cao nhằm giải quyết bài toán an sinh xã hội, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và thiết lập sinh kế bền vững cho các hộ nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa các lý thuyết đô thị hóa hiện đại và Khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Hợp tác Phát triển Quốc tế Anh (DFID). Về mặt lý luận đô thị hóa, tác giả kế thừa quan điểm của Brian Berry (1976), Bernd Hamm và các học giả trong nước như Đàm Trung Phường, Trần Cao Sơn, khẳng định đô thị hóa là quá trình chuyển dịch sâu sắc về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, không gian cư trú và lối sống từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp.

Về mặt sinh kế, đề tài vận dụng mô hình 5 nguồn vốn sinh kế chuẩn hóa của DFID bao gồm: vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, sức khỏe), vốn tự nhiên (diện tích đất đai canh tác, nguồn nước), vốn tài chính (tiền bồi thường, thu nhập tích lũy, tiền gửi tiết kiệm), vốn vật chất (nhà ở, cơ sở hạ tầng, phương tiện sản xuất, đồ dùng sinh hoạt) và vốn xã hội (mạng lưới quan hệ họ hàng, làng xóm, đoàn thể địa phương).

Hệ thống khái niệm pháp lý được chuẩn hóa theo Luật Đất đai năm 2003 cùng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP và Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, xác định rõ bản chất của thu hồi đất, bồi thường giá trị quyền sử dụng đất và chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính và định lượng thông qua phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp kế thừa tài liệu và khảo sát thực địa. Cỡ mẫu điều tra xã hội học bao gồm 106 hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi phục vụ dự án Khu đô thị mới quận Hải An, tập trung chủ yếu tại các tổ dân phố số 8, số 9 và số 10 thuộc phường Đằng Hải. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi bán cấu trúc được lựa chọn nhằm thu thập chính xác các dữ liệu vi mô về biến động thu nhập, cơ cấu lao động trước và sau giải phóng mặt bằng, cũng như phương thức sử dụng nguồn tiền đền bù.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn 2005-2010 của Phòng Thống kê quận Hải An, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Phát triển quỹ đất và Ủy ban nhân dân phường Đằng Hải. Toàn bộ số liệu sơ cấp và thứ cấp được xử lý, kiểm định và phân tích tương quan thông qua phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp phân tích so sánh trước - sau (before - after comparison) được ưu tiên ứng dụng vì cho phép lượng hóa chính xác mức độ biến thiên của 5 nguồn vốn sinh kế, làm nổi bật những chuyển dịch nghề nghiệp thực tế của người dân sau khi mất tư liệu sản xuất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thu hồi đất nông nghiệp đã làm suy giảm nghiêm trọng nguồn vốn tự nhiên và làm đảo lộn cấu trúc việc làm truyền thống. Tại quận Hải An, tỷ lệ lao động nông lâm thủy sản đã giảm mạnh từ 40,23% (15.551 người) năm 2005 xuống chỉ còn 11,77% (7.548 người) năm 2010. Tại dự án khu đô thị mới, việc thu hồi 95.766,6 m2 đất nông nghiệp khiến 106 hộ điều tra mất đi toàn bộ tư liệu sản xuất chính, buộc người lao động phải chuyển sang các công việc phi nông nghiệp mang tính tự phát.

Thứ hai, chất lượng nguồn vốn con người của người dân bị thu hồi đất còn nhiều hạn chế, tạo rào cản lớn cho quá trình chuyển đổi nghề nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ có 27% lao động bị thu hồi đất có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông và chỉ 14% từng qua các khóa đào tạo nghề ngắn hạn. Đáng lo ngại, nhóm lao động trên 35 tuổi chiếm tỷ trọng lớn trong các hộ điều tra, rơi vào tình trạng quá tuổi tuyển dụng của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Đình Vũ và Đông Hải. Tỷ lệ thất nghiệp tại địa phương sau thu hồi đất tăng từ 5,1% lên 10,8%, tương đồng với xu hướng gia tăng tỷ lệ không có việc làm tại Hà Nội từ 4,7% lên 12,4%.

Thứ ba, sự gia tăng ngắn hạn của nguồn vốn tài chính không đi kèm với tính bền vững của sinh kế. Mặc dù nhận được các khoản bồi thường và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, chỉ có 32,3% số hộ khảo sát đánh giá đời sống kinh tế có cải thiện hơn so với trước khi thu hồi đất. Ngược lại, có tới 67,7% số hộ khẳng định mức sống của gia đình không thay đổi hoặc trở nên khó khăn hơn (trong đó 34,5% số hộ có mức sống giảm sút rõ rệt).

Thứ tư, nguồn tiền bồi thường chủ yếu được phân bổ vào tiêu dùng phi sản xuất thay vì tái đầu tư sinh lợi. Khảo sát phương thức sử dụng tiền bồi thường cho thấy đa số hộ dân dùng tiền để xây mới, nâng cấp nhà ở, sắm sửa đồ gia dụng có giá trị cao hoặc trang trải sinh hoạt hàng ngày; tỷ lệ hộ dùng tiền đền bù để đầu tư mở rộng cửa hàng kinh doanh dịch vụ hoặc gửi tiết kiệm dài hạn lấy lãi duy trì cuộc sống chiếm tỷ lệ tương đối khiêm tốn.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự đứt gãy rõ rệt trong chuỗi thích ứng sinh kế của nông dân vùng ven đô. Khi biểu diễn số liệu biến động cơ cấu ngành nghề qua biểu đồ cột so sánh trước và sau thu hồi, có thể thấy rõ sự dịch chuyển mạnh mẽ: lao động chuyển sang làm dịch vụ buôn bán nhỏ tăng 2,72%, làm thuê tự do và xe ôm tăng 3,64%, trong khi tỷ lệ lao động được tuyển dụng chính thức vào các khu công nghiệp tập trung chỉ tăng 2,79%.

Nguyên nhân căn bản xuất phát từ cơ chế bồi thường bằng tiền mặt chưa gắn liền với các chương trình phục hồi sinh kế chủ động. Tỷ lệ lao động mất đất được doanh nghiệp nhận đất đào tạo đạt mức gần 0% tại Hải Phòng. Khi người dân tự bỏ kinh phí học nghề, hiệu quả tuyển dụng cũng rất thấp: thống kê diện rộng cho thấy trong 1.000 hộ mất đất chỉ có 190 người tự bỏ tiền học nghề và chỉ 90 người tìm được việc làm chính thức, 100 người còn lại vẫn thất nghiệp. Sự thiếu hụt các kỹ năng công nghiệp và dịch vụ hiện đại khiến nông dân mất đất rơi vào vùng trũng sinh kế, tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn xã hội và gia tăng tình trạng phân tầng giàu nghèo tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các tồn tại và thiết lập nền tảng sinh kế bền vững cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề ngắn hạn: Ủy ban nhân dân quận Hải An cần chủ trì phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hải Phòng cùng các cơ sở dạy nghề thiết kế các chương trình đào tạo linh hoạt, chú trọng đào tạo thực hành theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp tại Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ mức 14% hiện tại lên tối thiểu 45% trong giai đoạn 2013-2015, ưu tiên nhóm lao động từ 30 đến 45 tuổi.

  2. Quy định cơ chế ràng buộc trách nhiệm tuyển dụng đối với chủ đầu tư: Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng cần ban hành quy chế bắt buộc Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Phát triển nhà cùng các nhà đầu tư thứ cấp cam kết tiếp nhận tối thiểu từ 20% đến 30% lao động địa phương có đất bị thu hồi vào làm việc tại các hạng mục quản lý vận hành, bảo vệ, chăm sóc cây xanh và dịch vụ đô thị khi dự án hoàn thành bàn giao từ năm 2014.

  3. Thành lập Quỹ hỗ trợ vốn và tư vấn tài chính sinh kế hộ gia đình: Trung tâm Phát triển quỹ đất kết hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội quận Hải An triển khai chương trình tư vấn tài chính cho 100% hộ dân nhận tiền bồi thường; đồng thời cung ứng các gói tín dụng ưu đãi với lãi suất dưới 5%/năm nhằm hỗ trợ các hộ chuyển đổi sang mô hình kinh doanh thương mại, dịch vụ vận tải và logistics quy mô nhỏ trong khung thời gian từ 12 đến 24 tháng sau thu hồi đất.

  4. Hoàn thiện quy trình bồi thường, tái định cư công khai và minh bạch: Hội đồng Bồi thường, Hỗ trợ và Giải phóng mặt bằng quận Hải An cần thực hiện nghiêm túc Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, áp dụng mức giá bồi thường sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, rút ngắn thời gian giải quyết khiếu nại hành chính xuống dưới 30 ngày làm việc và công khai 100% phương án bồi hoàn tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Đằng Hải và Đông Hải 2 nhằm tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng chính sau:

  1. Cán bộ quản lý nhà nước và cơ quan quản lý đất đai: Lãnh đạo và chuyên viên thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Phát triển quỹ đất quận Hải An có thể sử dụng kết quả khảo sát trên 119.187,46 m2 đất dự án làm căn cứ thực tế để hoàn thiện chính sách đền bù và rút ngắn tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đô thị tiếp theo.

  2. Chủ đầu tư và doanh nghiệp phát triển bất động sản: Ban quản lý các dự án khu đô thị và khu công nghiệp tham khảo mô hình phối hợp an sinh xã hội nhằm chủ động xây dựng phương án tuyển dụng lao động bản địa, hạn chế tranh chấp khiếu kiện kéo dài và nâng cao uy tín thương hiệu trong quá trình triển khai dự án.

  3. Học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Địa chính và Quản lý đất đai: Sinh viên, học viên cao học ngành Địa chính, Địa lý kinh tế, Quản lý tài nguyên và Phát triển nông thôn có thể sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra 106 hộ mẫu và kỹ thuật vận dụng khung sinh kế DFID vào nghiên cứu chuyển dịch đất đai.

  4. Các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội phát triển cộng đồng: Các chuyên gia phát triển xã hội có thể khai thác bộ dữ liệu thực chứng về 5 nguồn vốn sinh kế để thiết kế các dự án can thiệp cộng đồng, hỗ trợ dạy nghề và phục hồi thu nhập cho hơn 21.312 nhân khẩu nông nghiệp tại các vùng ven đô đang đô thị hóa nhanh.

Câu hỏi thường gặp

Dự án xây dựng Khu đô thị mới quận Hải An có quy mô thu hồi đất nông nghiệp như thế nào?
Dự án có tổng diện tích quy hoạch 119.187,46 m2 nằm trên địa bàn 2 phường Đằng Hải và Đông Hải 2 do Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Phát triển nhà làm chủ đầu tư. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm đa số với 80.476,1 m2 đất giao theo Nghị định 03/CP và 15.290,5 m2 đất nông nghiệp do người dân tự quản lý.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động sau khi bị thu hồi đất tại Hải Phòng thay đổi ra sao?
Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ lao động không có việc làm tại thành phố Hải Phòng đã tăng từ 5,1% trước thời điểm thu hồi đất lên mức 10,8% sau khi giải phóng mặt bằng. Tình trạng này xuất phát từ việc có tới 73% lao động chưa tốt nghiệp phổ thông và chỉ 14% được đào tạo nghề ngắn hạn, gây khó khăn lớn khi tiếp cận thị trường lao động công nghiệp.

Vì sao có tới 67,7% số hộ dân cho rằng mức sống không cải thiện sau khi nhận tiền bồi thường?
Nguyên nhân chủ yếu do người dân mất đi tư liệu sản xuất cơ bản là đất đai nhưng chưa được định hướng nghề nghiệp mới phù hợp. Khảo sát 106 hộ dân cho thấy phần lớn tiền bồi thường được chi trả một lần và sử dụng vào việc xây cất nhà cửa, mua sắm đồ dùng tiện nghi thay vì tái đầu tư kinh doanh, dẫn đến tình trạng cạn kiệt tài chính sau một thời gian ngắn.

Cơ cấu kinh tế và sử dụng đất quận Hải An biến động như thế nào trong giai đoạn 2005-2010?
Trong giai đoạn 2005-2010, cơ cấu kinh tế quận chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng từ 45,9% lên 48,7%, nông nghiệp giảm từ 29,45% xuống 26,4%. Đi cùng xu hướng đó, diện tích đất nông nghiệp toàn quận giảm mạnh 538,15 ha, kéo theo tỷ lệ lao động nông lâm thủy sản sụt giảm từ 40,23% xuống chỉ còn 11,77%.

Luận văn ứng dụng khung lý thuyết nào để đo lường mức độ tổn thương sinh kế của người dân?
Tác giả đã áp dụng Khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, tập trung đánh giá định lượng và định tính sự biến đổi của 5 nguồn vốn sinh kế: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn xã hội. Mô hình này giúp nhận diện rõ nét những rủi ro mà 106 hộ dân gặp phải khi chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang lối sống đô thị.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc tác động toàn diện của việc thu hồi 119.187,46 m2 đất tại dự án Khu đô thị mới quận Hải An, chỉ ra sự suy giảm đột ngột nguồn vốn tự nhiên của các hộ canh tác.
  • Kết quả khảo sát 106 hộ dân tại phường Đằng Hải chứng minh tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 10,8% và tỷ trọng lao động nông nghiệp quận giảm mạnh xuống 11,77% sau giải phóng mặt bằng.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng 67,7% hộ dân có đời sống không cải thiện hoặc suy giảm do thiếu định hướng sử dụng nguồn tiền bồi thường và rào cản trình độ học vấn.
  • Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở pháp lý theo Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 69/2009/NĐ-CP trong việc bảo đảm quyền lợi cho người bị thu hồi đất.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất, trọng tâm là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 45% và cam kết tuyển dụng 20% đến 30% nhân sự bản địa cho giai đoạn 2013-2015.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng rõ nét về những tổn thương sinh kế của nông dân ven đô Hải Phòng, đặt nền móng khoa học cho việc hoạch định chính sách thu hồi đất gắn liền với an sinh xã hội bền vững. Quý độc giả, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để ứng dụng những bài học kinh nghiệm giá trị vào thực tiễn quản lý đất đai và phát triển đô thị hiện đại.