Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về du lịch quốc tế 2. Các khái niệm cơ bản 2. Du lịch Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến trên toàn thế giới nhưng vẫn chưa có một định nghĩa hoàn toàn thống nhất.
Giáo sư – Tiến sĩ Berkener đã đưa ra nhận xét: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”. Sau đây, nhóm tác giả xin đơn cử ba khái niệm về du lịch được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về du lịch: Thứ nhất, theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 1991): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người di chuyển, tạm trú với mục đích tham quan, khám phá, tìm hiểu và trải nghiệm hoặc mục đích nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các hình thức di chuyển có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”. Thứ hai, xét về khía cạnh kinh tế, các tác giả Macintosh và Goeldner (1995) phát biểu: “Du lịch là tổng hòa các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền địa phương và dân cư sở tại trong quá trình thu hút và đón tiếp khách”.
Thứ ba, Luật du lịch Việt Nam 2005 định nghĩa tại điều 4 khoản 1 như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Từ các định nghĩa trên, du lịch có thể được hiểu là là sự di chuyển của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau như: tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, chữa bệnh,… nhưng không bao gồm mục định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập tại nơi viếng thăm. Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời và kéo dài không quá một năm. Mặt khác, du lịch còn là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ, thiết lập quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các 14 dịch vụ du lịch, cơ quan chính quyền và dân cư ở địa phương.
Du lịch quốc tế Du lịch quốc tế là một loại hình du lịch được phân biệt với du lịch nội địa dựa trên tiêu thức phạm vi lãnh thổ của chuyến đi. Do đó, du lịch quốc tế mang tất cả những đặc trưng của du lịch nói chung và có thêm yếu tố quốc tế thể hiện qua việc du khách phải tiến hành các hoạt động du lịch đến một quốc gia khác với quốc gia mình sinh sống. Theo nhận định của tiến sĩ Trần Văn Thông (2003) trong giáo trình Tổng quan du lịch: “Du lịch quốc tế có thể hiểu là sự dịch chuyển và lưu trú tạm thời của con người trong thời gian nhàn rỗi ở một quốc gia khác bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, chữa bệnh, qua đó phát triển thể chất, nhận thức và tinh thần”. Trong cuốn “Travel and Tourism Management” của tác giả Barkat Ali (2015), du lịch quốc tế được định nghĩa là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của cuộc hành trình nằm ở các quốc gia khác nhau.
Du lịch quốc tế bao gồm hai loại. Du lịch quốc tế thụ động (outbound international tourism) là loại hình du lịch trong đó cá nhân cư trú của một quốc gia đi du lịch đến một nơi khác bên ngoài biên giới quốc gia của cá nhân đó. Ngược lại, khi cá nhân không cư trú của một quốc gia đến du lịch tại quốc gia đó vì một lý do nào đó ngoại trừ lý do tạo ra thu nhập tại nơi đến thì hình thức du lịch này được xem là du lịch quốc tế chủ động (inbound international tourism). Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, du lịch quốc tế được hiểu là loại hình du lịch quốc tế chủ động.
Khách du lịch quốc tế Năm 1989, Hội nghị Quốc tế về du lịch được tổ chức ở Lahaye (Hà Lan) đã đưa ra nhận định: “Khách du lịch quốc tế là những người đến thăm một hoặc một số nước khác với nước mà họ cư trú thường xuyên, mục đích của chuyến đi là tham quan, thăm viếng hoặc nghỉ ngơi không quá thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn, không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại và sau khi kết thúc đợt tham quan (hay lưu trú) phải rời khỏi nước đến tham quan để về nước nơi cư trú của mình hoặc đi đến một nước khác”. 15 Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 1991): “Khách du lịch quốc tế là những người rời khỏi quốc gia cư trú thường xuyên của mình đến viếng thăm một quốc gia khác tối thiểu là 24 giờ, tối đa là 12 tháng nhằm tiến hành các hoạt động tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng hoặc vì bất cứ lý do nào khác ngoại trừ các hoạt động mang lại thu nhập cho cá nhân tại nước viếng thăm”. Đồng thời khái niệm trên cũng được phân biệt với khái niệm khách tham quan quốc tế (international excursionist) – là những người tạm trú ít hơn 24 giờ ở nước đã đến thăm. Tại khoản 3, điều 34, chương V, Luật du lịch Việt Nam 2005 quy định: “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.
Theo khái niệm này, khách du lịch quốc tế là bất kỳ cá nhân nào đến du lịch tại nơi ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của họ, không quan trọng tiêu chí quốc tịch, mà dựa vào tiêu chí phạm vi lãnh thổ của chuyến đi. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đề cập đối tượng nghiên cứu là khách du lịch quốc tế đến Việt Nam (Việt Nam là quốc gia nhận khách du lịch). Du khách phải lưu lại nơi đến một khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ với những mục đích khác nhau nhưng không hàm chứa mục đích tạo ra thu nhập. Vai trò của du lịch quốc tế 2.
Vai trò về mặt kinh tế Mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước: Khi đi du lịch đến Việt Nam, khách nước ngoài phải dùng tiền để mua hàng hóa trong nước nhằm thực hiện các mục đích trong chuyến đi du lịch của họ như: tham quan, chữa bệnh, nghỉ dưỡng, nâng cao kiến thức,… Hoạt động tiêu tiền của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam được xem là hoạt động xuất khẩu du lịch. Mặt khác, hoạt động “xuất khẩu tại chỗ” này mang lại hiệu quả cao hơn so với xuất khẩu hàng hóa thông thường vì tiết kiệm được chi phí giao hàng, vận chuyển, bảo hiểm, thuế xuất nhập khẩu, có khả năng thu hồi vốn nhanh và lãi cao do nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp cần khả năng thanh toán. Do đó, khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam càng nhiều thì dòng ngoại tệ đổ vào Việt Nam càng tăng lên, góp phần quan trọng trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia. Kích thích hoạt động đầu tư: Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang 16 hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững – trong đó du lịch quốc tế luôn giữ vai trò nồng cốt.
Loại hình du lịch này tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia và có tiềm năng phát triển rất lớn bởi nhu cầu của người dân trên thế giới để khám phá, tìm kiếm những điều mới lạ và thú vị về thiên nhiên, lối sống, văn hóa ở những vùng đất mới ngày càng tăng. Đây chính là tiền đề quan trọng để kêu gọi đầu tư nước ngoài và trong nước vào lĩnh vực này. Đặc biệt, trong khi các dự án công nghiệp phải chịu nhiều loại thuế, phí về môi trường thì dự án du lịch lại nhận được nhiều hỗ trợ và ưu đãi. Ngoài ra, sự đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng du lịch như: đường sá, công viên, hệ thống cấp điện – nước, viễn thông và những cấu trúc thượng tầng (nghệ thuật, lễ hội, văn hóa dân gian,.) sẽ kích thích đầu tư rộng rãi của người dân cũng như các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Hoạt động du lịch quốc tế càng phát triển sẽ kích thích nhiều ngành nghề kinh doanh liên quan khác như: vận chuyển, lưu trú, ăn uống và vui chơi giải trí phát triển theo. Qua đó sẽ làm tăng nhu cầu lao động trong nhiều lĩnh vực, giải quyết một số lượng lớn việc làm cho người lao động và giảm tỉ lệ thất nghiệp. Bên cạnh đó, đội ngũ những người làm du lịch không những tăng về số lượng, mà còn đảm bảo chất lượng bởi làm hài lòng và giữ chân khách du lịch quốc tế đòi hỏi một đội ngũ lao động có chất lượng cao về chuyên môn, thái độ phục vụ, nhất là về ngoại ngữ. Vai trò về văn hoá – xã hội – môi trường Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc: Văn hoá là cội nguồn, là tương lai của dân tộc, nó xác định chỗ đứng cho một quốc gia trên trường thế giới.
Nhờ có du lịch quốc tế mà cư dân các vùng, địa phương, các quốc gia khác nhau có thể thăm viếng, đi lại và tìm hiểu lẫn nhau. Từ đó, các nền văn hóa có điều kiện hòa nhập với nhau, làm cho đời sống văn minh tinh thần của con người trở nên phong phú hơn. Ngoài ra, doanh thu từ hoạt động du lịch được sử dụng một phần lớn cho việc tu bổ, chỉnh trang các di tích, khôi phục và phát triển các di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt là các loại hình nghệ thuật truyền thống và các làng nghề thủ công mỹ nghệ.