Tổng quan nghiên cứu
Khu du lịch sinh thái Tràng An sở hữu diện tích 2.168 ha trải rộng trên 8 xã, phường thuộc huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn và thành phố Ninh Bình. Với hệ thống 47 di tích lịch sử cùng cảnh quan karst ngập nước độc đáo, khu du lịch đã đón lượng khách trung bình khoảng 1,8 triệu lượt khách/năm trong giai đoạn 2004 - 2014. Tại xã Ninh Xuân, nơi có hơn 50% diện tích tự nhiên nằm trong quy hoạch vùng lõi di sản, quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh tế thuần nông sang dịch vụ du lịch đã tạo ra những biến động sâu sắc về môi trường tự nhiên lẫn cấu trúc đời sống xã hội.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa khai thác kinh tế du lịch và bảo tồn sinh thái, đồng thời nhận diện các tổn thương trong chuyển dịch sinh kế của người dân địa phương. Mục tiêu cụ thể là phân tích thực trạng suy thoái môi trường nước và không khí, đánh giá sự biến đổi 6 nguồn vốn sinh kế của 60 hộ dân, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp phát triển du lịch bền vững.
Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn phát triển từ năm 2004 đến năm 2014, với thời gian triển khai thu thập dữ liệu thực địa từ ngày 1/12/2014 đến ngày 15/4/2016 tại địa bàn xã Ninh Xuân. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình được định lượng bằng các chỉ số cụ thể: cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc chỉ số chất lượng nước sông Sào Khê suy giảm xuống mức cảnh báo nguy hại (WQI = 8) và vốn tự nhiên của hộ dân giảm tới 3 lần sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF) của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2003), kết hợp hiệu chỉnh bổ sung nguồn vốn môi trường để hình thành khung phân tích 6 nguồn vốn: Tự nhiên, Con người, Vật chất, Xã hội, Tài chính và Môi trường. Tiếp cận này đặt người dân làm trung tâm nhằm đánh giá năng lực ứng phó trước sự can thiệp của các chính sách thu hồi đất và chuyển đổi nghề nghiệp.
Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết phát triển du lịch sinh thái và du lịch bền vững theo tiêu chuẩn của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và các nguyên lý của Trần Đức Thanh (2004). Ba khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Du lịch sinh thái (loại hình du lịch có trách nhiệm gắn với giáo dục môi trường và chia sẻ lợi ích cộng đồng), Chỉ số chất lượng nước sông (WQI theo thang đo từ 0 đến 100 của Tổng cục Môi trường) và Năng lực thích ứng sinh kế (khả năng tiếp cận, chuyển đổi các nguồn lực tài sản để duy trì mức sống ổn định).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp phân tích định lượng chuyên sâu:
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: Tổng cộng 60 hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên phân tầng tại 4 thôn của xã Ninh Xuân (15 hộ/thôn), đại diện cho các nhóm thu nhập, nghề nghiệp và độ tuổi khác nhau. Lý do lựa chọn cỡ mẫu này nhằm đảm bảo tính đại diện thống kê cho cấu trúc nông hộ chuyển đổi đất nông nghiệp sang du lịch tại địa bàn.
- Thu thập dữ liệu định tính: Thực hiện 4 cuộc thảo luận nhóm KIP (10 người/nhóm) tại 4 thôn; phỏng vấn sâu cá nhân cán bộ địa chính, văn hóa xã, ban quản lý khu du lịch và 10 đợt khảo sát quan sát thực địa (5 đợt tại khu dân cư và 5 đợt trong vùng lõi Tràng An).
- Phân tích định lượng và xử lý số liệu: Ứng dụng phần mềm Excel 2010 để tính toán chỉ số chất lượng nước mặt WQI dựa trên 7 thông số hóa lý (BOD5, COD, N-NH4+, TSS, DO, pH, Coliform) theo hướng dẫn của Tổng cục Môi trường năm 2010; tính toán chỉ số chất lượng không khí AQI qua các thông số TSP, SO2, NO2, CO; đồng thời áp dụng mô hình kinh tế lượng Holt-Winters và hồi quy đa biến để dự báo lượng khách và doanh thu du lịch.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu đã lượng hóa các tác động đa chiều từ hoạt động du lịch Tràng An:
- Tăng trưởng kinh tế vĩ mô nhưng thiếu bền vững cục bộ: Doanh thu du lịch Tràng An đóng góp ngày càng lớn vào ngân sách, đạt đỉnh 6% tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh Ninh Bình vào năm 2014, tăng gấp 20 lần so với mức đáy năm 2008. Tuy nhiên, mức độ rò rỉ tài chính ra bên ngoài còn cao, nguồn thu trực tiếp của người dân địa phương chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng chung.
- Chất lượng môi trường nước và không khí suy thoái nghiêm trọng: Chỉ số chất lượng nước mặt WQI tại sông Sào Khê chỉ đạt mức 8, thuộc phân vùng nước ô nhiễm nặng (mức màu đỏ từ 0 đến 25), hoàn toàn không đạt chuẩn phục vụ cấp nước hay nuôi trồng thủy sản. Chỉ số chất lượng không khí AQI tại các bến đỗ và điểm trung chuyển phương tiện chạm ngưỡng 600 vào các mùa cao điểm do phát thải từ hàng nghìn xe máy và ô tô của du khách.
- Mất cân đối cấu trúc vốn sinh kế hộ gia đình: Nguồn vốn tự nhiên của người dân bị sụt giảm gấp 3 lần do diện tích đất trồng lúa bị thu hồi để xây dựng hạ tầng du lịch. Trong khi đó, vốn tài chính gia tăng chậm, công việc chèo đò mang tính mùa vụ cao (tập trung 3-4 tháng đầu năm), dẫn đến 60% hộ dân gặp bất lợi về tính ổn định thu nhập dài hạn.
- Gia tăng mâu thuẫn xã hội và suy giảm gắn kết cộng đồng: Thang điểm đo lường mối quan hệ gia đình và làng xóm từ mốc chuẩn 10 điểm (thời điểm trước năm 2004) đã sụt giảm xuống chỉ còn 6,9 điểm sau khi phát triển du lịch, nguyên nhân xuất phát từ áp lực tranh giành việc chở đò, giảm thời gian sinh hoạt gia đình và bất bình đẳng kinh tế giữa các nhóm dân tộc/thôn xóm.
Thảo luận kết quả
Sự suy giảm chất lượng nước sông Sào Khê (WQI = 8) bắt nguồn trực tiếp từ việc tiếp nhận nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý của trung bình 1,8 triệu lượt khách/năm và hoạt động của hàng ngàn chuyến đò cơ học. So sánh với các nghiên cứu quốc tế như tại đảo Bali (Indonesia) hay đảo Koh Tachai (Thái Lan) của UNEP, hiện tượng quá tải hạ tầng và xói mòn văn hóa bản địa tại Ninh Xuân diễn ra theo quy luật thương mại hóa thiếu kiểm soát.
Dữ liệu biến động của 6 nguồn vốn sinh kế có thể được trực quan hóa qua biểu đồ mạng nhện (Radar Chart), làm nổi bật sự thu hẹp rõ rệt của trục Vốn tự nhiên và Vốn môi trường, trong khi trục Vốn tài chính chỉ mở rộng cục bộ ở nhóm làm dịch vụ lưu trú quy mô lớn. Bảng tương quan đa biến chỉ ra rằng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi có mối tương quan nghịch (-0,68) với mức độ hài lòng về tính ổn định việc làm của lao động trung niên trên 45 tuổi tại xã Ninh Xuân.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả định lượng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển du lịch bền vững:
- Nâng cấp hạ tầng xử lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước: Doanh nghiệp du lịch phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bình đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung công suất 1.500 m³/ngày đêm tại các bến thuyền; mục tiêu đưa chỉ số WQI sông Sào Khê tăng từ mức 8 lên trên 50 (đạt mức an toàn phục vụ tưới tiêu và giao thông thủy); hoàn thành trong giai đoạn 2016 - 2018.
- Tái cơ cấu sinh kế và chuyên nghiệp hóa lao động cộng đồng: Ủy ban nhân dân huyện Hoa Lư và xã Ninh Xuân tổ chức đào tạo kỹ năng du lịch, ngoại ngữ cho 100% lao động chèo đò (tương đương khoảng 1.200 - 1.500 người); đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp trải nghiệm để tăng thu nhập hộ thêm 25 - 30% ngoài mùa cao điểm; triển khai liên tục từ năm 2016 đến 2020.
- Hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích và quỹ an sinh xã hội: Doanh nghiệp khai thác du lịch trích 3 - 5% tổng doanh thu bán vé hàng năm để đóng góp vào Quỹ Phát triển Sinh kế Cộng đồng xã Ninh Xuân; hỗ trợ bảo hiểm y tế và tín dụng ưu đãi cho 60 hộ gia đình bị thu hồi trên 70% đất lúa; ban hành quy chế từ quý I/2017.
- Kiểm soát sức chứa du lịch và giảm phát thải phương tiện giao thông: Ban Quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An áp dụng hạn ngạch đón khách tối đa 15.000 lượt/ngày vào các dịp lễ hội; bố trí tuyến xe điện trung chuyển đạt chuẩn nhằm hạ chỉ số AQI không khí xuống dưới mức 100; áp dụng thường xuyên từ cuối năm 2016.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và bộ dữ liệu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bình sử dụng luận văn làm tài liệu căn cứ để xây dựng quy hoạch sức chứa sinh thái, ban hành quy chế quản lý bảo vệ môi trường vùng lõi di sản thế giới.
- Doanh nghiệp khai thác du lịch và chủ đầu tư: Ban Quản lý Khu du lịch sinh thái Tràng An tham khảo các chỉ số phát thải và mô hình kinh tế lượng để tối ưu hóa quy trình quản lý bến bãi, giảm thiểu chi phí xử lý môi trường và xây dựng mối quan hệ hài hòa với cộng đồng sở tại.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học: Các cá nhân nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Du lịch học ứng dụng khung sinh kế DFID 6 nguồn vốn mở rộng và phương pháp tính WQI/AQI làm mẫu phân tích cho các đề tài tương đương.
- Tổ chức phi chính phủ và chuyên gia phát triển cộng đồng: Các tổ chức phát triển nông thôn sử dụng nghiên cứu như một case-study thực chứng về tác động của quá trình chuyển dịch đất đai sang du lịch đối với sự gắn kết xã hội của cộng đồng thuần nông.
Câu hỏi thường gặp
Hoạt động du lịch Tràng An tác động đến môi trường nước sông Sào Khê ở mức độ nào?
Kết quả quan trắc 7 thông số hóa lý cho thấy chỉ số chất lượng nước mặt WQI của sông Sào Khê đã giảm nghiêm trọng xuống mức 8. Đây là mức báo động ô nhiễm nặng (thang màu đỏ từ 0 đến 25), đòi hỏi phải triển khai ngay các giải pháp xử lý nước thải tập trung từ bến thuyền du lịch.
Tại sao vốn tự nhiên của người dân xã Ninh Xuân lại suy giảm gấp 3 lần?
Nguyên nhân chủ yếu do việc quy hoạch 2.168 ha khu du lịch khiến hơn 50% diện tích tự nhiên của xã bị thu hồi, phần lớn là đất trồng lúa chuyển đổi sang xây dựng hạ tầng, làm mất đi tư liệu sản xuất nông nghiệp cốt lõi của hơn 60% hộ dân.
Khu du lịch sinh thái Tràng An đóng góp kinh tế ra sao cho địa phương?
Doanh thu từ khu du lịch tăng trưởng mạnh mẽ qua các năm, đến năm 2014 đã đóng góp 6% vào tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh Ninh Bình, gấp 20 lần so với giai đoạn mới đi vào hoạt động năm 2008.
Tác động xã hội của việc phát triển du lịch tại xã Ninh Xuân được định lượng thế nào?
Dựa trên phương pháp PRA đánh giá 5 tiêu chí quan hệ gia đình và làng xóm, thang điểm gắn kết cộng đồng đã giảm từ mốc chuẩn 10 điểm (trước năm 2004) xuống còn 6,9 điểm do phát sinh mâu thuẫn trong việc phân chia lượt chèo đò và sự suy giảm thời gian sinh hoạt gia đình.
Điểm mới trong khung phân tích sinh kế bền vững của nghiên cứu này là gì?
Tác giả đã phát triển khung sinh kế DFID chuẩn (5 nguồn vốn) thành mô hình 6 nguồn vốn bằng cách bổ sung nguồn Vốn môi trường, giúp đánh giá toàn diện sự tương tác biện chứng giữa chất lượng hệ sinh thái tự nhiên và sự bền vững của kinh tế hộ.
Kết luận
- Luận văn đã cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng phát triển Khu du lịch sinh thái Tràng An gắn với sự suy thoái môi trường nước (WQI = 8) và không khí (AQI = 600) tại xã Ninh Xuân.
- Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý phát triển khi doanh thu du lịch tăng 20 lần nhưng nguồn vốn tự nhiên của người dân bị thu hẹp 3 lần và mức độ gắn kết xã hội sụt giảm còn 6,9 điểm.
- Khung sinh kế bền vững DFID bổ sung vốn môi trường là đóng góp học thuật quan trọng, cung cấp công cụ lượng hóa tác động du lịch lên cộng đồng chuyển đổi từ thuần nông.
- Kế hoạch hành động giai đoạn 2016 - 2020 cần tập trung ưu tiên xử lý nước thải đạt WQI trên 50, kiểm soát ngưỡng 15.000 khách/ngày và trích 3 - 5% doanh thu cho quỹ an sinh.
- Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn diện bộ dữ liệu thực địa 60 hộ dân cùng hệ thống giải pháp chi tiết trong toàn văn luận văn thạc sĩ khoa học môi trường này để ứng dụng vào các nghiên cứu bảo tồn di sản tương đồng.