CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Tai nguyên nước và tam quan trong của tai nguyên nước l. Tài HQHVÊH Hước a.
Khái niệm: Tài nguyên nước là một trong những thành phần cơ bản của môi trường và là một trong những nguôn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước và không khí) góp phan duy trì sự sống trên hành tinh. Là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau, được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí. Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt. 97,5% lượng nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 2,5% còn lại là nước ngọt nhưng gần hon 2/3 lượng nước này tổn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực.
Phan còn lại không đóng băng được tìm thay chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất va trong không khí. (USGS, 2009) Surface/other Atmosphere Living things Freshwater 2.8% Total global Freshwater Surface water and water other freshwater Hình 1. Tỷ lệ phân bố lượng nước trên Trái Dat (Nguồn: USGS, 2009) HVTH: Pham Minh Quang GVHD: PGS. Truong Thanh Canh 4 Dé tài: Đánh giá sự xung đột phát sinh trong quá trình sử dụng tài nguyên nước sông Sài Gon b.
Vai trò: Tham gia vào quá trình địa mạo, địa hoá, làm rửa trôi bề mặt Trái Dat, tạo thành các khe suối, sông ngòi, đồng bằng bồi tích có độ phì nhiêu lớn và làm tro trọi các vùng đôi núi có độ phì nhiêu kém. Tham gia vào việc tạo ra các tầng nước ngầm năm sâu trong lòng Trái Đất và tạo nên những hang động kỳ diệu trong lòng đất đá, nhất là vùng núi đá vôi. Ở nước ta có các hang động đẹp tuyệt vời như động Phong Nha ở Quảng Bình, Tam Thanh, Nhị Thanh ở xứ Lạng déu gan liền với sự tác động của nước. Cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh vật.
Nước chiếm 74% trọng lượng trẻ sơ sinh, 55 - 60% cơ thể nam trưởng thành, 50% cơ thể nữ trưởng thành. Nước cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì cơ thể bởi nó liên quan đến nhiều quá trình sinh hoạt quan trọng. Muốn tiêu hóa, hap thu sử dụng tốt lương thực, thực phẩm. đều cần có nước.
Đựơc xem như lớp áo giáp bảo vệ Trái Dat khỏi bị giá lạnh trong những thời kỳ bức xạ mặt trời giảm đi. Nước trong khí quyền còn đảm bảo tưới cho bé mặt luc địa và làm cho khí hậu trên quả đất điều hoà hơn. Hoà tan chất dinh dưỡng, muối khoáng trong đất làm cho cây cối có thé hút được đồng thời làm cho cây vận chuyền chất dinh dưỡng để nuôi cây, nước tham gia vào quá trình quang hợp của cây, không có nước cây sẽ bị chết. Trong quá trình phát triển của mình cây cần một lượng nước đáng kể, lượng nước này phụ thuộc vào các loại cây.
Trong quá trình hình thành sự sống trên Trái Đất thì nước và môi trường nước đóng vai trò quan trọng. Nước tham gia vào vai trò tái sinh thế giới hữu cơ (tham gia quá trình quang hợp). Trong quá trình trao đổi chất, nước đóng vai trò trung tâm. Những phan ứng ly hóa học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của nước.
Nước là dung môi của nhiễu chất và đóng vai trò dan đường cho các muối đi vào cơ thé. Hiện trạng su dụng tài nguyên nước tai Việt Nam Việt Nam năm trong vùng nhiệt đới âm có lượng mưa tương đối lớn trung bình từ 1.000 mm, nhưng lại phân bố không đồng đều mà tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 4 - 5 đến tháng 10, riêng vùng duyên hải Trung Bộ thì mùa mưa bắt đầu và kết thúc chậm hơn vài tháng. Sự phân bố không đồng đều lượng mưa và dao động phức tạp theo thời gian là nguyên nhân gây nên nạn lũ lụt và hạn hán thất thường gây nhiều thiệt hại lớn đến mùa màng và tài HVTH: Pham Minh Quang GVHD: PGS. Truong Thanh Canh 5 Dé tài: Đánh giá sự xung đột phát sinh trong quá trình sử dụng tài nguyên nước sông Sài Gon sản ảnh hưởng đến nên kinh tế quốc gia, ngoài ra còn gây nhiều trở ngại cho việc trị thủy, khai thác dòng sông.
Lượng nước mưa hằng năm trên toàn lãnh thổ khoảng 640 km”, tạo ra một lượng dòng chảy của các sông hồ khoảng 313 km”. Nếu tính cả lượng nước từ bên ngoài chảy vào lãnh thé nước ta qua hai con sông lớn là sông Cửu Long (550 km”) và sông Hồng (50 km) thì tổng lượng nước mưa nhận được hằng năm khoảng 1.240 km” và lượng nước ma các con sông đồ ra biển hang năm khoảng 900 km”. Như vậy so với nhiều nước, Việt Nam có nguồn nước ngọt khá déi dao lượng nước bình quân cho mỗi đầu người đạt tới 17. Do nền kinh tế nước ta chưa phát triển nên nhu cầu về lượng nước sử dụng chưa cao, hiện nay mới chỉ khai thác được 500 m”/người/năm, nghĩa là chỉ khai thác được 3% lượng nước được tự nhiên cung cấp và chủ yếu là chỉ khai thác lớp nước mặt của các dòng sông và phân lớn tập trung cho sản xuất nông nghiệp.
Việt Nam là nước Đông Nam Á có chỉ phí nhiều nhất cho thủy lợi, cả nước hiện nay có 75 hệ thong thủy nông với 659 hồ, đập lớn và vừa, trên 3.500 hồ đập nhỏ với 1.000 cống tiêu, trên 2.000 trạm bơm lớn nhỏ.000 máy bơm các loại có kha năng cung cấp 60 - 70 tỷ m/năm. Tuy nhiên, hệ thống thủy nông đã xuống cấp nghiêm trọng, chỉ đáp ứng 50 - 60% công suất thiét kế. Lượng nước sử dụng hang năm cho nông nghiệp khoảng 93 tỷ m”, cho công nghiệp khoảng 17,3 tỷ m”, cho dịch vụ 1a 2 ty m”, cho sinh hoạt là 3,09 tỷ mỉ. Tính đến năm 2030 cơ cau dùng nước sẽ thay đối theo xu hướng nông nghiệp 75%, công nghiệp 16%, tiêu dùng 9%.
Nhu cầu dùng nước sẽ tăng gấp đôi, chiếm khoảng 1/10 lượng nước sông ngòi, 1/3 lượng nước nội địa, 1/3 lượng nước chảy ôn định. Do lượng mưa lớn, địa hình dốc, nước ta là một trong 14 nước có tiềm năng thuỷ điện lớn. Các nhà máy thủy điện hiện nay sản xuất khoảng 11 tỷ kWh, chiếm 72 - 75% sản lượng điện cả nước. Với tổng chiều dài các sông và kênh khoảng 40.000 km, đã đưa và khai thác vận tải 1.500 km, trong đó quản lý trên 800 km.
Có những sông suối tự nhiên, thác nước. được sử dụng làm các điểm tham quan du lịch. Về nuôi trồng thủy hải sản, nước ta có | triệu ha mặt nước ngọt, 400.000 ha mặt nước lo và 1.000 ha mặt nước sông ngòi có hơn 14 triệu ha mặt nước nội thủy và lãnh hải. Tuy nhiên cho đến nay mới sử dụng 12,5% diện tích mặt nước lo, nước mặn và 31% diện tích mặt nước ngọt.
Nhiều hỗ và đập nhỏ hơn trên khắp toàn quốc phục vụ tưới tiêu như Cam Sơn (tỉnh Bắc Giang), Bến En và Cửa Đạt (tỉnh Thanh Hóa), Đô Lương (tỉnh Nghệ An). Việt Nam hiện có HVTH: Pham Minh Quang GVHD: PGS. Truong Thanh Canh 6 Dé tài: Đánh giá sự xung đột phát sinh trong quá trình sử dụng tài nguyên nước sông Sài Gon hơn 3.500 hồ chứa nhỏ và khoảng 650 hỗ chứa cỡ lớn và trung bình dùng dé sản xuất thủy điện, kiểm soát lũ lụt, giao thông đường thủy thủy lợi và nuôi trồng thủy sản. Đời sống sinh hoạt hăng ngày của con người sử dụng rất nhiều nước sinh hoạt, về mặt sinh lý mỗi người cần 1 - 2 lít nước/ ngày và trung bình nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của một người trong một ngay 10 - 15 lít cho vệ sinh cá nhân, 20 - 200 lit cho tam rửa, 20 - 50 lít cho nau ăn, 40 - 80 lit cho giặt bằng máy.
Việt Nam có 708 đô thị bao gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương, 86 thành phố và thị xã thuộc tinh, 617 thị tran với 21,59 triệu người (chiếm 26.3% dân số toàn quốc. Có trên 240 nhà máy cấp nước đô thị với tổng công suất thiết kế là 3,42 triệu m'/ ngày. Trong đó 92 nhà máy sử dụng nguồn nước mặt với tong công suất khoảng 1.95 triệu m°/ngay va 148 nhà máy sử dụng nguồn nước dưới đất với tổng công suất khoảng 1. Một số địa phương khai thác 100% nước dưới đất dé cung cấp cho sinh hoạt sản xuất như TP.
Hà Nội, tỉnh Hưng Yên, Vĩnh Phúc. Các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Gia Lai, Thái Bình. khai thác 100% nước mặt và nhiều địa phương sử dụng cả hai nguồn nước như: TPHCM. tình Long An, Bình Dương.
Tổng công suất nước hiện có của các nhà máy cấp nước có thể cung cấp khoảng 150 lít nước sạch mỗi ngày. Tuy nhiên, do cơ sơ hạ tầng xuống cấp lạc hậu nên tỷ lệ thất thoát nước sạch khá cao (có nơi tỉ lệ lên tới 40%) nên thực tế nhiều đô thị chỉ có khoảng 40 - 50 lit/nguoi/ngay. Đối với khu vực nông thôn có khoảng 36,7 triệu người dân được cấp nước sạch (trên tổng số người dân 60,44 triệu). Tỉ lệ dân số nông thôn được cấp nước sinh hoạt lớn nhất ở vùng Nam Bộ chiếm khoảng 66,7%, đồng bằng sông Hồng 65,1%, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) 62,1%.
Hà Nội, tổng lượng nước dưới đất được khai thác là 1. Trong đó, phía Nam sông Hồng khai thác với lưu lượng 700. Trên địa bàn TP. Hà Nội hiện nay khoảng trên 100.000 giếng khoan khai thác nước ngầm của các hộ gia đình, hơn 200 giếng khoan của công ty nước sạch quản lý va 500 giếng khoan khai thác nước của các trạm phát nước nông thôn.
Các tỉnh ven biển miền Tây Nam Bộ như: Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Long An do nguồn nước ngọt trên các sông rạch ao hồ không đủ phục vụ nhu cầu của đời sống và sản xuất, vì vậy nguồn nước cung cấp chủ yếu được khai thác từ nguồn dưới đất. Khoảng 80% dân số ở 4 tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đang sử dụng nước ngầm mỗi ngày. (Cục Tài nguyên nước, 2010) HVTH: Pham Minh Quang GVHD: PGS. Truong Thanh Canh 7 Dé tài: Đánh giá sự xung đột phát sinh trong quá trình sử dụng tài nguyên nước sông Sài Gon 1.
Luật và chính sách quan ly tài nguyên nước Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý về tài nguyên nước đã tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với lãnh vực này nhưng các cơ sở pháp lý chưa điều chỉnh đồng bộ và toàn diện nguồn tài nguyên nước, vẫn còn một số điểm chưa phù hợp với tình hình thức tế.