CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ THOẢ MÃN CỦA KHÁCH HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận chung về dịch vụ và chất lượng dịch vụ của ngân hàng thương mại: 1. Khái niệm dịch vụ: Có nhiều cách hiểu khác nhau về dịch vụ. Theo cách hiểu truyền thống thì dịch vụ là những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất.
Theo cách hiểu phổ biến thì dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó là vô hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng hoặc với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Theo quan điểm của chuyên gia marketing Philip Kotler: dịch vụ là mọi hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình, không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể gắn hay không gắn với một sản phẩm vật chất (nguồn: Phillip Kotler, 2003) [4].
Những năm gần đây, khái niệm về dịch vụ trong lĩnh vực quản lý chất lượng được thống nhất theo TCVN ISO 8402:1999: “Dịch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp – khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp” (nguồn: Giáo trình quản lý chất lượng, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM - Khoa Quản trị Kinh doanh, 2010) [3]. Như vậy: dịch vụ bao gồm toàn bộ sự hỗ trợ mà khách hàng trông đợi, vượt ra ngoài dịch vụ cơ bản, phù hợp với giá cả, hình ảnh và uy tín có liên quan. Dịch vụ có những đặc điểm cơ bản sau: ü Tính đồng thời, không chia cắt: quá trình cung cấp dịch vụ xãy ra liên tục, một lúc với sự hiện diện của khách hàng trong suốt thời gian diễn ra quá trình cung cấp dịch vụ. CLDV rất khó đoán trước mà thường dựa theo sự phán đoán chủ quan, do đó, dịch vụ không thể tích lũy, dự trữ cũng như không thể kiểm nghiệm trước.
ü Tính không đồng nhất, không ổn định: CLDV được cung cấp tùy thuộc vào người thực hiện, thời gian và địa điểm cung cấp. Vì vậy, không thể dựa vào lần kiểm tra cuối cùng để đánh giá CLDV mình cung cấp. Tổ chức có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 khắc phục bằng cách đầu tư vào việc tuyển chọn và đào tạo, huấn luyện nhân viên; đồng thời chuẩn hóa các quy trình thực hiện và theo dõi, đo lường sự thỏa mãn của khách hàng thường xuyên. ü Tính vô hình: Sản phẩm dịch vụ khác với sản phẩm vật chất cụ thể ở chỗ dịch vụ không thể cầm, nắm, nghe, hay nhìn thấy trước khi mua.
Khách hàng chỉ nhận được sản phẩm dịch vụ ngay khi nó được cung cấp. ü Tính mong manh, không lưu giữ: chính vì vô hình nên dịch vụ được cho là rất mong manh, người cung cấp cũng như người tiếp nhận không thể lưu giữ lại, không thể đem tiêu thụ hay bán ra trong một thời gian sau đó. Dịch vụ ngân hàng: Ở nước ta, h iện nay vẫn chưa có khái niệm cụ thể nào về dịch vụ ngân hàng. Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011, cụ m từ “Hoạt động ngân hàng” tại khoản 13 điều 4, được giải thích “là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” (nguồn: Luật các tổ chức tín dụng ,2010) [7].
Thực tế vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng. Một số ý kiến cho rằng các hoạt động sinh lời của ngân hàng thương mại ngoài hoạt động cho vay thì được gọi là hoạt động dịch vụ. Quan điểm này phân định rõ hoạt động tín dụng, một hoạt động truyền thống và chủ yếu trong thời gian qua của các NHTM Việt Nam với hoạt động dịch vụ, một hoạt động đang phát phát triển hết sức mạnh mẽ ở nước ta trong các năm gần đây.Nguyễn Văn Tuyến, Đại học Luật Hà Nội: Theo thông lệ quốc tế, dịch vụ ngân hàng là khái niệm rất rộng, bao gồm tất cả các hoạt động ngân hàng của một tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng trên thị trường vì mục tiêu lợi nhuận (nguồn: Báo Đời sống và Pháp luật) [17]. Như vậy, tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại đều được coi là hoạt động dịch vụ và ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ có liên quan đến tài chính cho khách hàng.
Quan niệm này cũng phù hợp với cách phân loại trong bảng phân loại các dịch vụ theo khu vực của Tổ chức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Thương mại Quốc tế (WTO). Ngoài ra, trong phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng là ngành được phân tổ trong lĩnh vực dịch vụ. Trong bối cảnh Việt Nam h iện là thành viên của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) thì việc xem xét khái niệm dịch vụ tài chính cũng như khái niệm dịch vụ ngân hàng theo quan niệm chung của các nước là vấn đề cần thiết và tất yếu. Vì vậy, dịch vụ ngân hàng được đề cập trong luận văn n ày là một bộ phận của dịch vụ tài chính được hiểu theo thông lệ quốc tế như đã nêu ở trên.
v Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng: Hiện nay, các NHTM đang cung cấp các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng trong khuôn khổ các hoạt động và dịch vụ được quy đinh tại mục 2 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011, theo đó: − Tại điều 99, thì hoạt động ngân hàng bao gồm các hoạt động cung cấp sản phẩm dịch vụ sau: ü Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. ü Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. ü Cấp tín dụng dưới các hình thức sau: • Cho vay; • Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá; • Bảo lãnh ngân hàng; • Phát hành thẻ tín dụng; • Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; • Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được NHNN chấp thuận. ü Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
ü Cung ứng các phương tiện thanh toán. ü Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 • Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ; • Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được NHNN chấp thuận. − Tại điều 105, các NHTM sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài các sản phẩm về ngoại hối; các sản phẩm phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác. − Tại điều 107, các NHTM còn được phép cung cấp các dịch vụ khác như: ü Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn.
ü Tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư. ü Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp. ü Dịch vụ môi giới tiền tệ. ü Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được NHNN chấp thuận bằng văn bản.
Chất lượng dịch vụ: 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ: Theo W.Edward Deming: “Chất lượng là tổng hợp các đặc tính có thể đo lường được của sản phẩm và dịch vụ phù hợp nhu cầu của khách hàng tại mức chi phí được thị trường chấp nhận” (nguồn: Vincent Amanor Droadn & Larry Martin ,1986) [29].Juran: “Chất lượng là phù hợp khi sử dụng, điều này do người sử dụng đánh giá” (nguồn: Juran Joseph,1995) [25]. Lehtinen (1982) cho rằng CLDV phải được đánh giá trên hai khía cạnh là quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ. Gronroos 1984 cũng đề nghị hai lĩnh vực của CLDV là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.
Chất lượng kỹ thuật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào (nguồn: Lehtinen (1982) and Gronroos (1984), dẫn theo tác giả Nguyễn Đình Thọ - Nguyễn Thị Mai Trang, 2008) [12]. CLDV là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ (nguồn: Parasuraman & ctg 1985) [27]. Nhiều nhà nghiên cứu cho đây là một khái niệm tổng quát bao hàm đầy đủ ý nghĩa của dịch vụ và khá toàn diện khi xem xét CLDV đứng trên quan điểm khách hàng, xem khách hàng là trọng tâm. Theo TCVN ISO 9000:2000 dựa vào khái niệm về chất lượng sản phẩm, có thể coi CLDV là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu, mong đợi của khách hàng và các bên có liên quan (nguồn: Giáo trình quản lý chất lượng, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM - Khoa Quản trị Kinh doanh, 2010) [3].
Vậy, chất lượng dịch vụ là khả năng đáp ứng của dịch vụ đối với sự mong đợi của khách hàng, hay nói cách khác, CLDV là khoảng cách giữa sự kỳ vọng của khách hàng với cảm nhận của họ về các kết quả mà họ nhận được sau khi giao dịch với ngân hàng. Đặc điểm của chất lượng dịch vụ: ü Đặc điểm thứ nhất, theo giáo sư Noriaki Kano (1984) (dẫn theo Giáo trình quản lý chất lượng, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM - Khoa Quản trị Kinh doanh, 2010) [3], thuộc tính của một dịch vụ được phân chia thành 3 cấp độ: - Cấp 1: Những mong đợi cơ bản mà dịch vụ phải có. Đây là những thuộc tính khách hàng không đề cập nhưng họ cho rằng đương nhiên phải có. Không đáp ứng những thuộc tính này, dịch vụ sẽ bị từ chối và bị loại khỏi thị trường do khách hàng cảm thấy thất vọng.