chương 1 Chương | đã đưa ra một số lý thuyết về sự hài lòng trong công việc và một số nghiên cứu về thang đo nhân tố được dùng để đo lường mức độ hài lòng của nhân viên. Chương này cũng trình bảy một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến sự hài lòng của người lao động. Cuối cùng là vài nét về nghề nghiệp của giảng viên. 15 Chương 2 THIET KE NGHIEN CI 2.
GIỚI THIEU CHUNG VE TRUONG DAI HQC DUY TAN VA DAC DIEM TINH HiNH NHAN SU TAI TRUONG. Giới thiệu chung về Trường Đại học Duy Tân. Đại học Duy Tân ra đời vào ngày 11/11/1994 theo Quyết định Số 666/TTg. của Thủ tưởng Chính phủ, là trường Đại học Tư thục Đầu tiên và Lớn nhất Miền Trung dao tạo đa bậc, đa ngành, đa lĩnh vực!9! Tính đến tháng 06/2013, Đại học Duy Tân đã tuyển sinh được § khóa Thạc sĩ với hơn 700 học viên; 18 khóa Đại học, Cao đẳng với gần 46.000 sinh viên; 1 khóa Cao đẳng Nghề với gần 900 sinh viên và 10 khóa Trung cấp chuyên nghiệp với hơn 10.
Các ngành đào tạo tại Đại học Duy Tân khá đa dạng như: Công nghệ Thông tin, Quản trị Kinh doanh, Ngoại ngữ, Du lịch, Điện tử, Xây dựng, Kiến trúc, Y, Dược và cả các ngành khoa học xã hội gồm Văn - Báo. chí, Quan hệ Quốc tế, Văn hóa Du lịch. Với 15 khóa tốt nghiệp, Duy Tân đã cung. cấp cho thị trường lao động gần 30.000 Thạc sĩ, Kỹ sư, Kiến trúc sư, và Cử nhân.
Trường toạ lạc tại trung tâm thành phố Đà Nẵng với 5 cở sở đảo tạo. Cơ sở 1 tại K7/25 Quang Trung; cơ sở 2 tại 21 Nguyễn Văn Linh; cơ sở 3 tại 182 Nguyễn Văn Linh; cở sở 4 tại 209 Phan Thanh) và cơ sở 5 tại khu 3,5 heeta phường Hoà Khánh Nam. Tình hình nhân sự của trường Đại học Duy Tân. Đứng đầu Đại học Duy Tân là Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Bí thư Đảng Bộ, Quyền Hiệu Trưởng, Nhà giáo Ưu tú (NGUT) Lê Công Cơ.
Trong Ban Giám hiệu, Hiệu trưởng điều hành mọi hoạt động của trường. Giúp việc cho Hiệu trưởng có các phó Hiệu trưởng phụ trách các mảng nghiên cứu. khoa học, Tổ chức, chương trình đào tạo, quản lý đào tạo chính quy, đảo tạo Bằng 2, Từ Xa, „ Số lượng giáng viên cơ hữu trong trường hiện nay xấp xỉ 600 trong tông số 800 cán bộ-giảng viên toàn trường. 16 BANG UY _}+———>} HoT J | HỘI SV DOAN CÔNG BẠN HĐKH & VN |Qk THANH |Q„| ĐOÀN |„ „| GIÁM |ạ „| ĐÀOTẠO NIÊN HIỆU, KHÔI NGHIÊN KHÔI ĐÀO KHOI HANH CUU & UNG TAO CHÍNH PHỤC.
DỤNG VỤ ĐÀO TẠO TRONG HOP TAC QUOC TE DAO NƯỚC TAO CHAT LƯỢNG CAO.1: Sơ đồ tổ chức trường i hoc Duy tan Đội ngũ giảng dạy của Đại học Duy Tân hầu hết là các giảng viên trẻ, năng động, có trình độ Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ, tốt nghiệp từ các trường Đại học lớn trong và ngoài nước. Tính đến năm 2012, đội ngũ giảng dạy tại đại học Duy Tân lên đến xấp xi 800 người, trong đó có 613 giảng viên cơ hữu. Trình độ chung của đội ngũ này sồm 4.2% giảng viên có học hàm Giáo sư, Phó giáo su; 11% giảng viên có học vị Tiến sĩ Khoa học và Tiến sĩ; 54.4% giảng viên là Thạc sĩ và phần lớn số giảng viên còn lại đang theo học Cao học. Nhiều Tiến sĩ, Thạc sĩ của Duy Tân tốt nghiệp từ các trường Đại học danh tiếng trên thế giới như Mỹ, Nga, Singapore, Thái Lan.
Công việc xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng dạy luôn là mối quan tâm to lớn của lãnh đạo trường. Trong những năm đầu (1994-1996), đội ngũ đảo tạo chỉ gồm hơn 30 giảng viên, nhà trường đã phải dựa chủ yếu vào lực lượng thỉnh giảng (80% khối lượng đào tạo). Từ năm 1996 đến trước 2000, Hội Đồng Quản Trị trường chỉ thị tuyển dụng chủ yếu là giảng viên tốt nghiệp khá giỏi từ Đại học và Cao học, trẻ dưới 30 tuổi, với mục tiêu tạo ra một đội ngũ vững chắc. trong 10 - 20 năm sau, vượt các trường Đại học công vốn sẽ phải thay đôi đội ngũ giỏi nhưng cao tuổi vào cùng thời gian đó.
Tuy nhiên, đội ngũ non trẻ này đã gặp 7 không ít khó khăn vì những hạn chế về kinh nghiệm giảng dạy và đảo tạo. Từ năm 2001, bên cạnh mục tiêu “trẻ hóa”, NGƯT Lê Công Cơ, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị đã thiết lập các mục tiêu *Thạc sĩ hóa”, *Tin học hóa”, và “Anh ngữ hóa” toàn bộ đội ngũ giảng dạy của trường. Trường đã đầu tư to lớn cho những mục tiêu này: mời các giảng viên nhiều kinh nghiệm từ các trường khác bồi dưỡng cho đội ngũ của Duy Tân, gởi giảng viên đi tu nghiệp ở các trường Đại học lớn trong và ngoài nước, đầu tư kinh phí cho các giảng viên theo học các chương trình Cao học có uy tín ở hai đầu đất nước. Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của giảng viên cơ hữu Đại học Duy Tân.
Tiền lương của giảng viên cơ hữu căn cứ trên khối lượng công tác đào tạo. (như là khối lượng giảng dạy, chấm bài, coi thi, hướng dẫn thực hành,.), nghiên cứu khoa học (như là đề tài nghiên cứu khoa học, viết sách, báo,.), quản lý lớp (giáo viên chủ nhiệm, cố vấn học tập) họ sẽ thực hiện trong năm học. Toàn bộ hoạt động của giảng viên được quy chuẩn theo hệ số do Ban Giám hiệu quy định. Tiền lương của giảng viên còn dựa vào thang điểm thi đua được tính hàng tháng và tổng hợp vào cuối năm học.
Tính chất công việc Nghiên cứu cái mới, trang bị cơ sở lý thuyết khoa học và thực nghiệm tạo nên tảng cho sinh viên tự học tự nghiên cứu là nhiệm vụ hàng đầu của giảng viên đại hoc. Trong bối cảnh hệ thống các trường đại học tư thục vừa mới ra đời sau một thời gian dài xã hội chỉ có các trường đại học công lập, công thêm một số trường tư thục chưa tô chức tốt công tác quản lý đảo tạo dẫn đến chất lượng sinh viên ra trường kém. Điều đó dẫn đến xã hội không đánh giá cao tắm bằng tốt nghiệp của các trường đại học tư. Trước những định kiến của xã hội, không những sinh viên tốt nghiệp các trường tư mà cả người làm công tác đảo tạo là giảng viên của các trường này cũng có những mặc cảm tự tỉ trước các giảng viên đại học công lập.
18 Phương pháp làm việc của giảng viên tại một trường đại học khác với trường. Tuy nhiên, việc đổi mới phương pháp của nhiều giảng viên hầu như rất ít. Phương pháp tổ chức và triển khai công việc theo hình thức nhóm trong giảng dạy, thực hành, nghiên cứu,. chưa được xem trọng, Một số giảng viên trẻ hiện nay còn nhiều hoài bão cho cuộc sống của họ.
Đứng trước nhiều lựa chọn, đây đó vẫn còn những người chưa coi nghề giảng viên đại học là tâm huyết suốt đời. Nhiều giảng viên rất có triển vọng chuyển sang một ngành nghề kinh doanh có lợi hơn cho họ về kinh tế gia đình. Lãnh đạo và đồng nghiệp. Các hoạt động của giảng viên cơ hữu đều do trưởng Khoa và trưởng Bộ môn phân công.
Hằng năm, căn cứ và bảng xếp loại thi đua, trưởng Khoa phân bổ khối lượng đào tạo cho giảng viên cơ hữu. Trung bình khoa tô chức họp chung khoảng 4 lần mỗi tháng cho giảng viên cơ hữu để trao đôi thông tin các hoạt động chung của trường và hoạt động quản lý chuyên môn của khoa để giải quyết các công tác chung và công tác chuyên môn. Giảng viên cơ hữu quan hệ mật thiết với các chuyên viên của các phòng ban chức năng trong trường để hoàn thành công việc như phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học (phòng học, khối lượng đảo tạo, kết quả thi cử,.); phòng Kế hoạch-Tài chính (các khoản lương, phụ cấp,.); trung tâm Học liệu (kiểm soát hồ sơ giảng dạy, học liệu,.); phòng Tổ chức (đảo tạo, huấn luyện, chính sách,. Quyền tự chủ trong công vii Qua thời gian làm tập sự, thông thường từ 9 tháng trở lên, trợ giảng được thi chuyển ngạch giảng viên qua một Hội đồng đánh giá do Hiệu trưởng thành lập.
Người giảng viên mới nhận khối lượng giảng dạy sau khi được công nhận ở học kỳ kế tiếp. Giảng viên phải hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ đảo tạo được phân công trong năm học. Giảng viên phải chịu trách nhiệm về chất lượng giảng dạy, hướng dẫn thực hành,. trước Ban Giám hiệu Nhà trường và trước người học.
Đánh giá hiệu quả công việc Trường Đại học Duy Tân thực hiện đánh giá hiệu quả công việc của giảng. viên qua việc hoàn thành khối lượng công việc đã hoàn thành từng tháng, từng học kỳ và năm học. Song song với việc đánh giá hoàn thành khối lượng công việc, mỗi giảng. viên còn được đánh giá mức độ hoàn thành các công việc đó qua một hệ thống tiêu chí thi đua.
Khối lượng công việc đào tạo được phản ánh trên “Số theo dõi giảng. dạy-thực hành” do phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học phụ trách. Việc đánh giá giảng viên qua bảng tiêu chi thi dua hang thang trước hết do chính bản thân giảng. viên và khoa quản lý giảng viên, thứ đến là các phòng ban chức năng có nhiệm vụ kiểm tra việc đánh giá của giảng viên trên cơ sở dữ liệu theo dõi của họ trong suốt tháng.
Ví dụ, phòng Thanh Tra của Trường sẽ kiểm tra điểm tự đánh giá của giảng. viên về công tác “Sinh hoạt Tổ Bộ môn”; phòng Khảo thí kiểm tra mục “Chấm và nộp bài thi ding han”; 2. Chính sách và quy trình làm việc Nhiều văn bản chính sách của nhà Trường đối với giảng viên đã được ban hành Nha trường triển khai hệ thống quy trình làm việc theo chuẩn ISO từ năm 2000. Sau nhiều lần biên soạn và hiệu chỉnh, hệ thống quy trình tại trường tương, đối đầy đủ.
Tuy nhiên, từ sự phát triển nhanh chóng về quy mô của trường cũng như sự phát triển của đội ngũ giảng viên, một số quy trình cần cập nhật hoặc biên soạn mới Hằng năm, Trường giao cho Trung tâm Đảm Bảo Chất Lượng và ISO của Trường tô chức kiểm tra việc học hỏi quy định, quy trình của giảng viên. Kết quả kiểm tra này được tính vào thang điểm thi đua của giảng viên hàng tháng. Đào tạo-thăng tiến Hội Đồng Quản trị và Ban Giám hiệu xem đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên là vấn đề sống còn của chất lượng đảo tạo. Giảng viên phải đăng ký 20 với khoa kế hoạch đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với môn học do minh đảm nhiệm.