Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về năng lực cạnh tranh nguồn nhân lực giảng viên tại trường đại học công lập. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh NNL giảng viên ngành quản trị nhân lực tại trường ĐH công lập trên địa bàn HN. Phương pháp hệ nghiên cứu và phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh NNL giảng viên ngành quản trị nhân lực tại trường ĐH công lập trên địa bàn HN Chương 4.
Đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh NNL giảng viên ngành quản trị nhân lực tại trường đại học công lập trên địa bàn Hà Nội. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGUỒN NHÂN LỰC GIẢNG VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 2. Một số khái niệm cơ bản Sự hình thành nền giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam có thể được đánh dấu bằng việc thành lập Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam, theo mô hình phương phương Đông, tại kinh thành Thăng Long vào năm 1076, dưới thời nhà Lý. Trải qua bao nhiêu thời kỳ từ chiến tranh GDĐH theo mô hình của các nước phương Tây như Pháp, Liên xô, Mỹ…Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 trên cả lãnh thổ Việt Nam , GDĐH được xây dựng lại theo kiểu miền Bắc: hệ thống GDĐH theo mô hình Liên Xô được củng cố và phát triển.
Cơ cấu hệ thống GDĐH bao gồm cấp đại học kéo dài từ 4 đến 6 năm. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung đối với GDĐH biểu hiện rõ ở các yếu tố: sinh viên được tuyển vào các trường đại học thường với số lượng không lớn bằng một quy trình chặt chẽ, họ không phải đóng học phí và được bao cấp một chi phí đủ sống ở mức độ thấp, sau khi tốt nghiệp họ được phân công vào các vị trí trong bộ máy nhà nước hoặc các cơ sở kinh tế quốc doanh. Hệ thống GDĐH thống nhất theo mô hình Liên Xô này tồn tại cho đến cuối năm 1986, bộc lộ nhiều nhược điểm gây trì trệ cho sự phát triển. Cả đất nước lúc đó cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng chung về kinh tế xã hội do khó khăn sau chiến tranh và tác động tiêu cực của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
Từ đầu năm 1987, Chính phủ Việt Nam quyết định từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, bắt đầu thời kỳ “Đổi mới”. Từ đó, cùng với kinh tế xã hội, nền GDĐH Việt Nam cũng có nhiều chuyển biến. Như vậy, cho đến nay nền GDĐH hiện đại của Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của ba mô hình GDĐH phương Tây: mô hình Pháp, mô hình Liên Xô (mà thực chất là hỗn hợp mô hình Pháp, Đức với sự chi phối của hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung) và mô hình Mỹ. 9 Trong giáo dục đại học bao gồm hai nhóm đó là : trường đại học công lập và trường đại học dân lập.
để hiểu rõ giáo dục đại học tác giả đưa ra một số khái niệm về : trường đại học, trường đại học công lập và trường đại học dân lập như sau: 2. Khái niệm về trường đại học Trường đại học 1 (tiếng Anh: University) là một cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên. Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao và cấp các bằng cấp khoa học trong nhiều các lĩnh vực ngành nghề. Các trường đại học có thể cung cấp các chương trình bậc đại học và sau đại học.
Giáo dục đại học gồm hai phần: dạy và học. Một số phương pháp cổ điển trong giáo dục đại học thường đặt trọng tâm vào một trong hai phần đó. Chẳng hạn như giảng bài (lectures, hay thuyết trình) là một phương pháp truyền đạt kiến thức. Có người cho rằng giảng bài là một phương pháp chuyển giao thông tin từ cuốn sổ ghi chép của người dạy đến cuốn sổ ghi chép của người học mà không phải qua cái đầu của cả hai.
So với giảng bài, những lớp seminar (chuyên đề), phụ đạo (tutorial), và thực hành thường chú trọng vào việc học hơn. Trường đại học công lập2 Một trường đại học công lập là trường đại học do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi Trường đại học dân lập3 : Trường đại học tư thục là một cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, do cá nhân hoặc tổ chức của một nước xin phép thành lập và tự đầu tư Không giống những trường đại học công lập, đại học tư thục không nhận được sự hỗ trợ về vốn của Nhà nước, nguồn tài chính để hoạt động của họ là từ học phí của 1 Xem: http://vi.org/wiki 2 Xem: http://vi.org/wiki 3 Xem:http://vi.org/wiki 10 sinh viên học tại trường, khách hàng và các khoản hiến tặng. Học phí tại các trường này có xu hướng lớn hơn nhiều so với trường đại học công lập. Ở nhiều khu vực trên thế giới, các trường đại học công lập là các cơ sở đào tạo và nghiên cứu có uy tín và ảnh hưởng cao; nhiều cơ sở trong số đó được xếp hạng tốt nhất.
Ở một số nơi khác các trường công lập có không có danh tiếng bằng các trường đại học tư thục. Nguồn nhân lực giảng viên tại các trường Đại học công lập 2.Khái niêm về nguồn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên (Personnel management) với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 cho đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực (hurman resourses management) với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Có thể nói sự xuất hiện thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn nhân lực con người.
Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực chẳng hạn như: - Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới 4. Cách hiểu này về NNL xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức; 4 Xem: Nicholas Henry – Public Administration and Public affairs tr 256 11 - Trong báo cáo của Liên hiệp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người.5Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực. Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người là những năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng. Quan niệm về nguồn nhân lực như vậy cũng đã cho ta thấy phần nào sự tán đồng của Liên hiệp quốc đối với phương thức quản lý mới; - Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức(6) Tuy có những định nghĩa khác nhau tuy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên về nguồn nhân lực là: -Số lượng nhân lực: nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai.
Đấy là những câu hỏi cho việc xác định số lượng NNL. Sự phát triển về số lượng NNL dựa trên 2 nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân; - Chất lượng nguồn nhân lực: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như: trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ, …của người lao động. trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trong trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực - Cơ cấu nguồn nhân lực: cơ cấu NNL là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về NNL. Cơ cấu NNL thể hiện trên các phương diện sau: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tình, độ tuổi,.
cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia nói chung được 5 Xem: Geogre T. Milkovich and John W.Boudreau – Hurman resourses management tr 9 12 quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỉ lệ nhất định nhân lực. chẳng hạn như cơ cấu nhân lực lao động trong khu vực kinh tế tư nhân của các nước trên thế giới phổ biến là 5 – 3 – 1 cụ thể là 5 công nhân kỹ thuật, 3 trung cấp nghề và 1 kỹ sư; đối với nước ta cơ cấu này có phần ngược lại tức là số người có trình độ đại học, trên trình độ đại học nhiều hơn số công nhân kỹ thuật 6. Hay cơ cấu nhân lực về giới tính trong khu vực công của nước ta cũng đã có những biểu hiện của sự mất cân đối.