CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan Việc sử dụng tiếng Anh như một phương tiện ngôn ngữ để dạy học đã trở nên phổ biến ở nhiều nước ở châu Á. Vai trò thống trị của các nước thuộc khối nói tiếng Anh trong nền kinh tế, chính trị quốc tế, việc sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ trung lập trên internet, đã khiến tiếng Anh ảnh hưởng đến chính sách ngôn ngữ của rất nhiều nước. Đối với Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế, gia nhập WTO, tham gia các diễn đàn đa phương với các quốc gia trong khu vực và thế giới thì ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh trở nên quan trọng hơn.
Việc đưa các ngoại ngữ vào giảng dạy và giảng dạy chuyên môn bằng các ngoại ngữ tại các trường đại học Việt Nam là một nhu cầu xã hội tất yếu. Trong số các ngoại ngữ được sử dụng để dạy nội dung các chuyên ngành thì tiếng Anh được sử dụng nhiều hơn. Đánh giá hoạt động giảng dạy, nghiên cứu về các PPGD nói chung và giáo dục chuyên môn bằng tiếng Anh tại đại học nói riêng là một sự cần thiết, một thực tế khách quan trong xu hướng nghiên cứu chung của thế giới và khu vực trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục cũng như trong bối cảnh đất nước đang phát triển và hòa nhập. Ở nước ngoài Các nghiên cứu liên quan về đánh giá hoạt động giảng dạy Đánh giá hoạt động giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy - học, đổi mới phương pháp giảng dạy là hoạt động từ lâu được quan tâm trong các nền giáo dục tiên tiến ở Hoa Kỳ, Châu Âu,.Rất nhiều các công trình nghiên cứu về hoạt động này đã được thực hiện liên quan đến nội dung đánh giá, đặc trưng của hoạt động sinh viên đánh giá giảng viên, về những ảnh hưởng của hoạt động sinh viên đánh giá giảng viên, đến phương pháp giảng dạy của giảng viên, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đánh giá.
Theo điều tra nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau ở Châu Âu và Hoa Kỳ (Centra, 1993, Arreola, 2000 và một số tác giả khác), các trường đại học và cao đẳng thường tập trung vào đánh giá hoạt động của giảng viên theo 3 lĩnh vực chính: 7 giảng dạy, nghiên cứu khoa học, dịch vụ. Tuy nhiên, trong nghiên cứu khác của tác giả Braskamp và Ory (1994) đưa thêm lĩnh vực "trách nhiệm công dân" là một lĩnh vực cần đánh giá khi đánh giá tổng thể các hoạt động của giảng viên, đồng thời ông đã mở rộng hơn về định nghĩa các hoạt động trong 3 lĩnh vực chính trên cụ thể gồm các hoạt động: 1/ Giảng dạy, bao gồm: truyền đạt kiến thức, tư vấn hướng dẫn cho sinh viên và học viên, hướng dẫn các nghiên cứu về giảng dạy, đánh giá đồng nghiệp, tiến hành các hoạt động học tập và phát triển chuyên môn. 2/ Nghiên cứu khoa học và sáng tạo, bao gồm: thực hiện nghiên cứu, thực hiện các hoạt động có tính sáng tạo, biên tập và quản lý các hoạt động sáng tạo, lãnh đạo và quản lý các nghiên cứu, các đề tài, hợp đồng, dự án. 3/ Công việc dịch vụ chuyên môn, bao gồm: thực hành các nghiên cứu ứng dụng và đánh giá, phổ biến kiến thức, tham gia cộng tác với các tổ chức khác.
4/ Trách nhiệm công dân, bao gồm: đóng góp cho trường đại học địa phương, đóng góp cho bộ môn, các hiệp hội chuyên môn và các tổ chức xã hội, đóng góp cho các cộng đồng khác. Mặc dù nghiên cứu của hai nhà khoa học trên đã chi tiết các hoạt động của giảng viên và hai ông đã có nhiều công trình để thực nghiệm đúc kết thành các tiêu chuẩn thống nhất chung, song hiện vẫn còn nhiều tranh luận khác nhau giữa các học giả trên thế giới nghiên cứu về lĩnh vực này về một số tiêu chuẩn như: Xác định như thế nào là giảng dạy đạt chuẩn; định nghĩa như thế nào là mức chuẩn đạt được (xuất sắc, tốt, đạt, không đạt), có nên chia trọng số đều giữa các lĩnh vực giảng dạy và lĩnh vực nghiên cứu khoa học không?. Các tác giả Centra (1993) và Braskamp, Ory (1994) đã nghiên cứu về nội dung đánh giá giảng viên của sinh viên và xác định sáu yếu tố thường được thấy trong các phiếu đánh giá của sinh viên là: Lập kế hoạch và tổ chức môn học, độ rõ ràng, các kỹ năng giao tiếp/thông tin, quan hệ giữa giảng viên và sinh viên, độ khó của môn học, khối lượng bài tập, xếp loại học tập và các bài kiểm tra, sinh viên tự đánh giá quá trình học tập. Nhìn chung các đơn vị tổ chức đánh giá nhằm vào mục đích đánh giá để lựa chọn nội dung cho phù hợp.
Còn các tác giả như: Marsh (1987). Cashin (1990) Health (1992), Ramsden (1992); Dilts et al (1994), Coe 8 (1998) nghiên cứu các đặc trưng về đánh giá của sinh viên như độ giá trị của các đánh giá của sinh viên về giảng viên, về độ tin cậy cũng như những ảnh hưởng của hoạt động sinh viên đánh giá giảng viên đến chất lượng giảng dạy của giảng viên. Độ tin cậy tương tự hay cao hơn đặc biệt thường thấy ở các dạng phiếu được thiết kế công phu, có nghĩa là các dạng phiếu được xây dựng với sự hỗ trợ của những người có kiến thức về đánh giá, đo lường trong giáo dục. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Cohen (1980) đã áp dụng phương pháp phân tích đa chiều để kết hợp những phát hiện từ 22 phép so sánh kết quả của phản hồi từ đánh giá của sinh viên tại trường đại học.
Kết quả cho thấy những phản hồi có ảnh hưởng khiêm tốn nhưng rất quan trọng tới giảng dạy. Những giảng viên nhận được phản hồi giữa kỳ sẽ có điểm trung bình cuối kỳ cao hơn những giảng viên không nhận được phản hồi giữa kỳ. Murray (1997) đã chỉ ra rằng chất lượng giảng dạy của giảng viên được cải thiện sau khi có đánh giá của sinh viên, đặc biệt nếu như đánh giá được hỗ trợ giải thích bởi các hoạt động tư vấn chuyên gia. Các nghiên cứu liên quan về các phương pháp dạy học và dạy học chuyên môn bằng ngoại ngữ Một số tác giả tập trung vào nghiên cứu phát triển các phương pháp toàn diện nhằm đánh giá năng lực và phương pháp giảng dạy của giảng viên một cách có hiệu quả.
Những phương pháp này tập trung vào phần hiểu biết, kỹ năng và một số thực tế khác, trong các nghiên cứu của Broudy, Kenedy và Shulman thì Sulman đã đưa ra 7 lĩnh vực sau: hiểu biết về nội dung; có kiến thức sư phạm bao gồm nguyên tắc, chiến lược, quản lý lớp học; kiến thức về chương trình học, bao gồm tài liệu và chương trình; kiến thức về nội dung sư phạm, sự kết hợp giữa nội dung và sư phạm tạo nên quan niệm đặc biệt về nghề sư phạm; sự hiểu biết về người học và các đặc điểm của người học; sự hiểu biết về bối cảnh giáo dục, bao gồm đặc điểm của lớp học, trường, cộng đồng và văn hóa; sự hiểu biết về mục tiêu giáo dục, giá trị và nền tảng triết học, lịch sử của giáo dục. Liên quan đến phương pháp dạy học chuyên môn bằng ngoại ngữ, tác giả Jean Brewster (2004) đã giới thiệu phương pháp học tập tích hợp nội dung và ngôn ngữ 9 (viết tắt là CLIL - Content and language integrated learning) trong “Giảng dạy ngôn ngữ dựa trên nội dung: một phương pháp để giúp cho học sinh năng động và thử thách? - Content-based language teaching: a way to keep students motivated and challenged?”. Tác giả khẳng định giáo dục song ngữ và giảng dạy môn học tích hợp dạy ngôn ngữ là cần thiết cho học tập và thúc đẩy kỹ năng tư duy của học sinh ở trường. Đây là phương pháp sư phạm sáng tạo, giáo viên tìm hiểu và phát triển các nguyên tắc và thực hành để liên kết việc học ngôn ngữ tiếng Anh với chương trình học, nhấn mạnh việc sử dụng ngôn ngữ để giải thích, thể hiện ý nghĩa và thương lượng.
Phương pháp này nhìn chung có nhiều điểm chung với giảng dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ bổ sung (EAL) dành cho học viên đi học tại các nước nói tiếng Anh nhưng phương pháp tiếp cận toàn diện cho phép học sinh có kỹ năng tư duy và chiến lược học tập phù hợp, cho phép sự tham gia tích cực hơn của học sinh; tạo ra nhiều phong cách học tập khác nhau và đa trí tuệ giúp phát hiện ra tài năng và tiềm năng của người học; nó dẫn đến phát triển độc lập và tự túc trong học sinh thông qua việc tự học và làm việc theo nhóm. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng đề cao vai trò nội dung của giáo trình giảng dạy và nhiệm vụ học tập, các nhà hoạch định chương trình giảng dạy, nhà biên soạn tài liệu và giáo viên cần phải làm việc với nhau để tìm nội dung và nhiệm vụ phù hợp của động lực, thách thức cùng với các hình thức thích hợp của phương pháp giảng dạy hoặc hỗ trợ để cho các mục tiêu chương trình đào tạo có thể dễ dàng được thực hiện. Ở các trường đại học của Hoa Kỳ, sinh viên nói ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh ngày càng tăng, giảng viên không có hoặc ít khi chuẩn bị các hình thức hỗ trợ sinh viên học tập tốt về nội dung học tập và kỹ năng thông qua tiếng Anh trong quá trình phát triển khả năng tiếng Anh. Tương tự với khó khăn của sinh viên CTTT phải học các kiến thức bằng tiếng Anh trong khi giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt là chủ yếu.
Trong nghiên cứu “Đào tạo giáo viên ngôn ngữ đáp ứng: chuẩn bị giáo viên lớp học để dạy học bằng tiếng Anh - Linguistically responsive teacher education: preparing classroom teachers to teach English language learners” của các tác giả Tamara Lucas, Ana Maria Villegas and Margaret Freedson-Gonzalez 10 (2008) đã xác định các nguyên tắc có thể phục vụ như là nền tảng ngôn ngữ cho việc dạy kiến thức cho người học bằng tiếng Anh trong lớp học chính thức: hiểu là điều thiết yếu cho việc học bằng ngôn ngữ thứ hai, thực hành sư phạm ngôn ngữ đáp ứng, tìm hiểu về nguồn gốc, ngôn ngữ và học tập của người học trong lớp học, xác định các ngôn ngữ nhu cầu vốn có của nhiệm vụ lớp học,. Từ đó, các tác giả đã phác thảo phương pháp thực hành sư phạm ngôn ngữ đáp ứng với những nguyên tắc trên.