Khóa luận tốt nghiệp đánh giá tình hình sử dụng thuốc ở các bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại khoa nội tổng hợp bệnh viện e

Khóa luận đánh giá tình hình sử dụng thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại khoa nội tổng hợp Bệnh viện E, phân tích hiệu quả và đề xuất cải thiện.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2021

76
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đại cương về đái tháo đường

1.2. Đặc điểm dịch tễ của bệnh đái tháo đường

1.3. Triệu chứng và chẩn đoán đái tháo đường type 2

1.3.1. Triệu chứng đái tháo đường type 2

1.3.2. Chẩn đoán đái tháo đường type 2

1.4. Biến chứng cấp tính

1.4.1. Hôn mê nhiễm toan ceton

1.4.2. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu

1.5. Biến chứng mạn tính

1.5.1. Biến chứng vi mạch

1.5.1.1. Bệnh võng mạc đái tháo đường
1.5.1.2. Biến chứng thận

1.5.2. Biến chứng mạch máu lớn

1.5.2.1. Bệnh mạch vành

1.6. Điều trị đái tháo đường

1.6.1. Mục tiêu điều trị

1.6.2. Nguyên tắc điều trị

1.6.3. Phương pháp điều trị đái tháo đường type 2

1.6.4. Các thuốc điều trị đái tháo đường type 2

1.6.4.1. Nguồn gốc insulin
1.6.4.2. Cơ chế tác động của insulin
1.6.4.3. Phân loại insulin
1.6.4.4. Điều trị insulin ở bệnh nhân ĐTĐ type 2
1.6.4.5. Chỉ định insulin cho bệnh nhân đái tháo đường type 2
1.6.4.6. Tác dụng không mong muốn
1.6.4.7. Các thuốc điều trị ĐTĐ type 2 khác
1.6.4.8. Nhóm thuốc ảnh hưởng đến sự hấp thu glucose
1.6.4.9. Phối hợp các thuốc

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang

2.5.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.5.3. Phương pháp thu thập số liệu

2.5.4. Các biến số, chỉ số nghiên cứu

2.6. Đặc điểm của bệnh nhân trong nghiên cứu

2.7. Quá trình thay đổi glucose máu khi điều trị

2.7.1. Sự thay đổi glucose máu lúc đói khi sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ type 2

2.8. Các thuốc điều trị của bệnh nhân

2.9. Các tiêu chuẩn đánh giá

2.10. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

3.2. Một số đặc điểm lâm sàng

3.3. Một số đặc điểm cận lâm sàng

3.4. Đánh giá tình hình sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

3.5. Các thuốc điều trị ĐTĐ type 2 gặp trong nghiên cứu

3.6. Đánh giá tình hình sử dụng thuốc điều trị THA trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

3.7. Tương tác thuốc trong nghiên cứu

3.8. Đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN

5. CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đánh giá tình hình sử dụng thuốc

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thuốc được sử dụng cho bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện E. Việc sử dụng thuốc trong điều trị đái tháo đường là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa các biến chứng. Theo thống kê, có nhiều loại thuốc được sử dụng, bao gồm cả thuốc uống và insulin. Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng bệnh nhân, cũng như các yếu tố như tuổi tác, giới tính và các bệnh lý kèm theo. Đánh giá tình hình sử dụng thuốc không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hiệu quả điều trị mà còn giúp phát hiện các vấn đề liên quan đến tác dụng phụ thuốcquản lý bệnh.

1.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán mắc đái tháo đường type 2 tại Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện E. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân được ghi nhận để phân tích. Các yếu tố như tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI) và các bệnh lý kèm theo được xem xét kỹ lưỡng. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân lớn tuổi chiếm ưu thế, với nhiều người có chỉ số BMI cao, cho thấy mối liên hệ giữa béo phì và đái tháo đường. Việc phân tích này giúp xác định nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao và cần được theo dõi chặt chẽ hơn trong quá trình điều trị.

1.2. Tình hình sử dụng thuốc điều trị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều loại thuốc được sử dụng trong điều trị đái tháo đường type 2, bao gồm metformin, sulfonylureas, và insulin. Việc sử dụng thuốc không đồng nhất giữa các bệnh nhân, với một số người chỉ sử dụng thuốc uống, trong khi những người khác cần kết hợp với insulin. Điều này cho thấy sự cần thiết phải kiểm soát đường huyết một cách hiệu quả. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số bệnh nhân gặp phải tác dụng phụ thuốc, điều này cần được chú ý trong quá trình điều trị. Việc đánh giá tình hình sử dụng thuốc giúp cải thiện quy trình điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

II. Tác dụng phụ thuốc và quản lý bệnh

Một trong những vấn đề quan trọng trong điều trị đái tháo đường type 2tác dụng phụ thuốc. Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều bệnh nhân gặp phải các triệu chứng không mong muốn khi sử dụng thuốc điều trị. Các tác dụng phụ này có thể ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân, từ đó làm giảm hiệu quả điều trị. Việc theo dõi và quản lý các tác dụng phụ là rất cần thiết để đảm bảo bệnh nhân có thể tiếp tục điều trị mà không gặp phải những vấn đề nghiêm trọng. Các bác sĩ cần thường xuyên đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và điều chỉnh phác đồ điều trị khi cần thiết.

2.1. Các tác dụng phụ thường gặp

Trong quá trình nghiên cứu, một số tác dụng phụ phổ biến được ghi nhận bao gồm hạ đường huyết, buồn nôn, và các vấn đề về tiêu hóa. Những tác dụng phụ này không chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân mà còn có thể dẫn đến việc ngừng sử dụng thuốc. Việc giáo dục bệnh nhân về các triệu chứng của tác dụng phụ và cách xử lý là rất quan trọng. Bệnh nhân cần được khuyến khích báo cáo ngay lập tức bất kỳ triệu chứng nào không bình thường cho bác sĩ để có thể điều chỉnh kịp thời.

2.2. Quản lý bệnh và chăm sóc sức khỏe

Quản lý bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2 không chỉ dừng lại ở việc sử dụng thuốc mà còn bao gồm việc thay đổi lối sống và chế độ ăn uống. Nghiên cứu cho thấy rằng việc kết hợp giữa thuốc và chế độ ăn uống hợp lý, cùng với việc tập thể dục thường xuyên, có thể giúp kiểm soát đường huyết hiệu quả hơn. Các bác sĩ cần phối hợp với bệnh nhân để xây dựng một kế hoạch điều trị toàn diện, bao gồm cả việc theo dõi định kỳ các chỉ số sức khỏe như glucose máu, huyết áp và lipid máu.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Đại cương về đái tháo đường 1. Định nghĩa Đái tháo đường là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết trong bài tiết insulin, hoạt động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong thời gian dài gây ra các rối loạn chuyển hóa protid, carbohydrate, lipid, gây tổn thương và suy giảm chức năng các cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [1, 12, 39].

Đái tháo đường được phân thành 4 loại chính theo nguyên nhân gây bệnh, bao gồm: ĐTĐ type 1 ( phụ thuộc insulin), ĐTĐ type 2 (không phụ thuộc insulin, đái tháo đường thai kì (Gestational diabetes mellitus -GDM) và đái tháo đường do nguyên nhân khác (do dùng thuốc hoặc hóa chất, di truyền, bệnh lý nội tiết khác,…) [1]. Hiện nay, đái tháo đường type 2 là dạng bệnh phổ biến nhất, thường không có triệu chứng trong giai đoạn đầu và có thể không được chẩn đoán trong nhiều năm. Các yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển bệnh đái tháo đường type 2 bao gồm tuổi tác, béo phì, lối sống không lành mạnh và mắc đái tháo đường thai kỳ trước đó [26, 81]. Đặc điểm dịch tễ của bệnh đái tháo đường Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường đang gia tăng với tốc độ nhanh chóng do sự tác động phức tạp của các yếu tố kinh tế xã hội, môi trường và di truyền.

Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (International Diabetes Federation – IDF), số người trưởng thành mắc bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới là 151 triệu người vào năm 2000. Đến năm 2009, số người mắc đã lên tới 285 triệu người, tăng 88%. Năm 2010, dự báo toàn cầu về số người mắc đái tháo đường vào năm 2025 là 438 triệu người. Trên thực tế, năm 2019, khoảng 9,3% người trưởng thành (20-79 tuổi) tương đương 463 triệu người đang sống chung với bệnh đái tháo đường, vượt xa so với dự đoán trước đó.

Hơn 4 triệu người trong độ tuổi từ 20-79 đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến đái tháo đường và hơn 1,1 triệu trẻ em và thanh thiếu niên (dưới 20 tuổi) mắc bệnh đái tháo đường type 1. IDF ước tính rằng sẽ có 578 triệu người trưởng thành mắc bệnh đái tháo đường vào năm 2030 và 700 triệu người vào năm 2045 [40]. Số bệnh nhân mắc ĐTĐ theo từng năm (triệu người) [40] Trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở khu vực thành thị là 10,8%, trong khi khu vực nông thôn có tỷ lệ thấp hơn, ở mức 7,2%. Tuy nhiên, khoảng cách này đang dần thu hẹp, số người mắc bệnh đái tháo đường ở nông thôn đang gia tăng do quá trình đô thị hóa [40].

Đô thị hóa ngày càng tăng và thói quen sống không lành mạnh (ít vận động, ăn quá nhiều đồ ăn nhanh, …) là những yếu tố góp phần làm tăng tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường type 2 ở cả trẻ em, trở thành vấn đề sức khỏe đáng lo ngại hiện nay [80, 81]. Ở Việt Nam, năm 2015, tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường là 4,1% và tiền đái tháo đường là 3,6%. Tuy nhiên, cả nước mới có chỉ có 29% người bệnh đái tháo đường được quản lý tại các cơ sở y tế, trong khi số chưa được quản lý là 71% [6]. Theo báo cáo của Liên đoàn Đái tháo đường thế giới IDF (International Diabetes Federation), năm 2017 cả nước có tới 3,53 triệu người mắc đái tháo đường và ít nhất 80 ca tử vong mỗi ngày vì các biến chứng liên quan.

Dự báo vào năm 2045, số người bắc bệnh có thể tăng lên 6,3 triệu người [41]. Các nghiên cứu cho thấy xu hướng mắc ĐTĐ tăng lên nhanh chóng trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam. Bệnh lý này cũng như các biến chứng kèm theo đang gây nên những thách thức lớn cho xã hội [40, 41]. Triệu chứng và chẩn đoán đái tháo đường type 2 1.

Triệu chứng đái tháo đường type 2 Trong các loại đái tháo đường, đái tháo đường type 2 (đái tháo đường không phụ thuộc insulin) có tỷ lệ mắc cao nhất trên toàn thế giới, chiếm 90% đến 95% tổng số trường hợp đái tháo đường được chẩn đoán [26, 81]. Xu hướng mắc bệnh đái tháo đường type 2 chủ yếu ở những người lớn tuổi (> 30 tuổi) [1]. Đái tháo đường type 2 liên quan đến khả năng tiết insulin của tế bào beta đảo tụy bị suy giảm dẫn đến sự thiếu hụt insulin tương đối, kết hợp với tình trạng kháng insulin. Tuy nhiên, nguyên nhân gây ra sự suy giảm và rối loạn chức năng tế bào beta tụy vẫn chưa được xác định rõ [26, 56, 81].

Hầu hết những người mắc đái tháo đường type 2 đều thừa cân, béo phì hoặc thừa mỡ vùng bụng, một số hormon do mô mỡ tiết ra làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích dẫn đến tình trạng kháng insulin trở nên nghiêm trọng hơn [82]. Do đó, có thể cải thiện tình trạng kháng insulin và kiểm soát tốt đường huyết ở người thừa cân, béo phì bằng cách giảm cân hoặc dùng một số thuốc [23, 26]. Một số người mắc bệnh đái tháo đường type 2 có các triệu chứng nhẹ, không rõ ràng nên thường không được chú ý hoặc không có triệu chứng ở giai đoạn đầu nên không được chẩn đoán trong nhiều năm [1, 73]. Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (American Diabetes Association ADA), có 7 triệu chứng điển hình của đái tháo đường type 2 dưới đây [73]:  Đi tiểu thường xuyên.

 Mệt mỏi nhiều.  Vết thương chậm lành.  Ngứa ran, đau hoặc tê ở bàn tay / bàn chân. Chẩn đoán đái tháo đường type 2 Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization –WHO) và ADA 2020, bốn xét nghiệm chẩn đoán ĐTĐ được khuyến nghị thể hiện trong bảng sau [13, 79, 81].

Xét nghiệm chẩn đoán ĐTĐ. Glucose máu 2 giờ sau liệu pháp dung ≥ 11,1 mmol / L (200 mg / dl) nạp glucose đường uống (oral glucose tolerance test: OGTT). HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol / mol) Glucose máu ngẫu nhiên ≥ 11,1 mmol / L (200 mg / dl) Các xét nghiệm được thực hiện đối với mỗi người không nhất thiết phải giống nhau. Chẩn đoán xác định đái tháo đường khi có 1 trong 4 xét nghiệm trên kèm các dấu hiệu và triệu chứng.

Nếu một giá trị tăng cao được phát hiện ở những người không có triệu chứng, nên làm lại xét nghiệm, tốt nhất là với cùng một xét nghiệm, càng sớm càng tốt vào ngày tiếp theo để xác định chẩn đoán [78, 81]. Các biến chứng Bệnh đái tháo đường gây ra rất nhiều biến chứng nguy hiểm bao gồm các biến chứng cấp tính và biến chứng mạn tính. Biến chứng cấp tính 1. Hôn mê nhiễm toan ceton Nhiễm toan ceton do đái tháo đường chủ yếu xảy ra ở bệnh nhân đái tháo đường type 1, tuy nhiên có thể xảy ra ở cả bệnh nhân đái tháo đường type 2 trong một số trường hợp như nhiễm trùng nặng, nhiễm trùng huyết, chấn thương, …[76, 81] Khi nhu cầu về insulin càng tăng cao, tình trạng thiếu hụt insulin trầm trọng và tăng các hormon đối nghịch (cortisol, GH, glucagon,…) dẫn đến glucose máu tăng cao, gây ra các rối loạn chuyển hóa: tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây toan hóa các tổ chức,… hậu quả là mất nước và điện giải trong và ngoài tế bào [5].

Nhiễm toan ceton diễn biến nhanh trong vòng vài giờ với các triệu chứng như: hơi thở có mùi ceton, khát nước, tiểu nhiều, thở sâu, … một số bệnh nhân đau bụng, buồn nôn, nôn [2]. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là biến chứng cấp tính xảy ra ở bệnh nhân đái tháo đường type 2, đặc biệt ở những người lớn tuổi 57 [81, 83]. Khi nồng độ glucose máu tăng cao ≥ 33,3mmol/L ( 6 g/L), áp lực thẩm thấu > 350 mmosmol/kg gây ra 6 tình trạng mất nước toàn cơ thể nghiêm trọng dẫn đến rối loạn ý thức [73].

Ngược lại với nhiễm toan ceton, các triệu chứng lâm sàng của đái tháo đường có tăng áp lực thẩm thấu thường âm thầm kéo dài trong vài ngày với các triệu chứng phổ biến: mất nước nặng, dấu hiệu thần kinh khu trú (như liệt nửa người, co giật, …), rối loạn ý thức. Mặc dù tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường type 2 nhập viện do biến chứng tăng áp lực thẩm thấp thấp hơn, tuy nhiên tỷ lệ tử vong lại cao hơn ( bằng 9/10 lần) so với bệnh nhân đái tháo đường có nhiễm toan ceton [2]. Ngoài ra, các đáp ứng miễn dịch ở người bệnh đái tháo đường có glucose máu tăng cao kéo dài sẽ chậm hơn bình thường nên dễ gặp các tình trạng nhiễm trùng cấp tính như: nhiễm trùng tiết niệu,. Đái tháo đường còn gây ra một vài biến chứng cấp tính nguy hiểm khác như: hạ glucose máu, nhiễm toan acid lactic, … 1.

Biến chứng mạn tính Các biến chứng mạn tính do đái tháo đường gây ra bao gồm biến chứng vi mạch: biến chứng mắt, thận, .; biến chứng mạch máu lớn: tăng huyết áp, bệnh lý mạch vành, bệnh mạch máu ngoại biên…; biến chứng thần kinh và tổn thương bàn chân. Biến chứng vi mạch a. Bệnh võng mạc đái tháo đường Bệnh võng mạc đái tháo đường ( Diabetic retinopathy-DR): là một biến chứng vi mạch nặng của cả đái tháo đường type 1 và type 2 có liên quan chặt chẽ đến thời gian mắc bệnh và mức độ kiểm soát glucose máu của bệnh nhân [102]. Là nguyên nhân chủ yếu gây mù lòa ở hầu hết những người lớn tuổi (từ 20-74 tuổi) ở các nước đang phát triển [28].

Tình trạng tăng glucose máu mạn tính, bệnh thận, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu là những yếu tố làm tăng nguy cơ hoặc có liên quan đến bệnh võng mạc đái tháo đường [29]. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc kiểm soát tốt glucose máu và huyết áp làm giảm nguy cơ, ngăn ngừa và làm chậm sự tiến triển của bệnh võng mạc đái tháo đường, cải thiện chức năng thị giác của bệnh nhân võng mạc đái tháo đường [28]. Biến chứng thận. Khoảng 20-40% bệnh nhân đái tháo đường gặp biến chứng thận [28, 110].

7 Bệnh thận mạn tính có thể được phát hiện ngay khi được chẩn đoán bệnh đái tháo đường type 2 và có thể tiến triển thành bệnh thận giai đoạn cuối. Ngoài ra, những bệnh nhân đái tháo đường có bệnh thận sẽ có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch [28]. Theo khuyến nghị của ADA, bệnh nhân đái tháo đường type 2 cần được đánh giá albumin niệu và mức lọc cầu thận mỗi năm một lần dù đang điều trị theo bất kì liệu pháp nào.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh Giá Sử Dụng Thuốc Ở Bệnh Nhân Đái Tháo Đường Type 2 Tại Bệnh Viện E" cung cấp một phân tích chi tiết về việc sử dụng thuốc điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường type 2, tập trung vào hiệu quả và tính an toàn của các phác đồ điều trị hiện hành. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ nắm rõ hơn về thực trạng điều trị mà còn đưa ra những gợi ý cải thiện để tối ưu hóa kết quả điều trị cho bệnh nhân. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực nội tiết và quản lý bệnh đái tháo đường.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến đái tháo đường, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu chỉ số tim cổ chân nồng độ homocystein huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có loét bàn chân, nơi đi sâu vào các biến chứng nguy hiểm của bệnh. Ngoài ra, nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu lâm sàng khác, Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành y đa khoa nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị chửa ngoài tử cung chưa vỡ bằng methotrexat tại bệnh viện phụ sản trung ương cũng là một tài liệu đáng chú ý. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề y học liên quan.