Tổng quan luận án
Biến chứng bàn chân do bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế, suy giảm chất lượng cuộc sống và gia tăng tỷ lệ tử vong ở người bệnh. Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), loét bàn chân (LBC) là một trong những nguyên nhân chính khiến người bệnh ĐTĐ phải nhập viện điều trị; tỷ lệ mắc loét bàn chân chiếm khoảng 20% tổng số người bệnh ĐTĐ và có tới 15% bệnh nhân phải mang tổn thương loét bàn chân trong suốt cuộc đời. Bệnh sinh của loét bàn chân đái tháo đường là sự phối hợp phức tạp giữa ba yếu tố then chốt: bệnh lý thần kinh ngoại vi, bệnh động mạch ngoại vi (ĐMNV) và tình trạng nhiễm trùng. Quá trình xơ vữa động mạch (XVĐM) ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 diễn ra sớm, lan tỏa và nặng nề hơn so với người không mắc bệnh, dẫn tới tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng chi dưới, cản trở quá trình liền vết thương và gia tăng nguy cơ cắt cụt chi.
Nhằm phát hiện sớm tổn thương xơ vữa thành mạch và đánh giá nguy cơ biến chứng mạch máu, các phương pháp thăm dò chức năng và dấu ấn sinh học mới đã được đưa vào nghiên cứu thực nghiệm. Chỉ số tim – cổ chân (Cardio-Ankle Vascular Index - CAVI) là một chỉ số không xâm lấn đánh giá độ cứng động mạch tổng thể từ gốc động mạch chủ đến cổ chân, có ưu điểm nổi bật là không phụ thuộc vào huyết áp tại thời điểm đo. Song song với đó, homocystein (Hcy) – một acid amin chứa lưu huỳnh sinh ra trong quá trình chuyển hóa methionine – được xác định là một yếu tố nguy cơ tim mạch độc lập, liên quan mật thiết đến stress oxy hóa, rối loạn chức năng tế bào nội mạc và tình trạng xơ vữa huyết khối. Tuy nhiên, tại Việt Nam trước đây, các nghiên cứu về CAVI và homocystein chủ yếu tập trung vào các nhóm bệnh lý như tăng huyết áp, bệnh động mạch vành hoặc suy thận; còn thiếu các công trình nghiên cứu hệ thống đánh giá đồng thời hai chỉ số này gắn liền với tổn thương động mạch chi dưới trên siêu âm Doppler ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có biến chứng loét bàn chân.
Xuất phát từ khoảng trống thực tiễn đó, nghiên cứu sinh Bùi Thế Long đã thực hiện luận án tiến sĩ y học với đề tài: "Nghiên cứu chỉ số tim - cổ chân, nồng độ homocystein huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có loét bàn chân", chuyên ngành Nội khoa (mã số: 9720107), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Bùi Mỹ Hạnh tại Học viện Quân y (năm 2023).
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 nội dung chính:
- Khảo sát chỉ số Tim – cổ chân (CAVI), nồng độ homocystein huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có loét bàn chân.
- Tìm hiểu mối liên quan giữa chỉ số Tim – cổ chân, nồng độ homocystein với một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có loét bàn chân.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Luận án được thực hiện trên 401 đối tượng điều trị nội trú và khám tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 12 năm 2021. Mẫu nghiên cứu được phân chia thành 3 nhóm đối tượng cụ thể:
- Nhóm nghiên cứu: 176 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có biến chứng loét bàn chân điều trị tại Khoa Chăm sóc Bàn chân.
- Nhóm chứng bệnh: 178 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 chưa có biến chứng loét bàn chân điều trị tại Khoa Điều trị yêu cầu.
- Nhóm chứng thường: 47 người trưởng thành khỏe mạnh, không mắc ĐTĐ típ 2, không tăng huyết áp, không có tiền sử bệnh lý tim mạch và bệnh mạn tính.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan y văn trong luận án hệ thống hóa các nền tảng lý thuyết và bằng chứng lâm sàng về biến chứng mạch máu đái tháo đường, các phương pháp đánh giá độ cứng động mạch và vai trò sinh bệnh học của homocystein:
Về biến chứng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường: Nghiên cứu UKPDS 33 chỉ ra rằng có khoảng 50% bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đã xuất hiện biến chứng tại thời điểm được chẩn đoán. Tác giả Mai Thế Trạch và Nguyễn Thy Khê (2007) phân chia biến chứng mạch máu thành biến chứng mạch máu lớn (bệnh động mạch vành, bệnh mạch máu não, bệnh mạch máu ngoại vi chi dưới) và biến chứng vi mạch (bệnh võng mạc, bệnh thận, bệnh thần kinh đái tháo đường). Về tổn thương bàn chân, cơ chế hình thành vết loét được xác lập qua 5 yếu tố chính: biến chứng thần kinh ngoại vi (cảm giác, vận động, tự động), bệnh động mạch ngoại vi, nhiễm trùng bàn chân, hạn chế vận động khớp và các yếu tố tác động ngoại sinh từ giày dép, vệ sinh (Đỗ Trung Quân, 2006).
Về chỉ số Tim – cổ chân (CAVI): Vận tốc lan truyền sóng mạch (PWV) từng được sử dụng phổ biến để đánh giá độ cứng động mạch, nhưng kết quả đo phụ thuộc nhiều vào mức huyết áp tại thời điểm thăm khám. Để khắc phục nhược điểm này, hệ thống đo CAVI được phát triển dựa trên giả thuyết thông số độ cứng $\beta$ của Kozaburo Hayashi kết hợp với phương trình Bramwell-Hill (1878). Các công trình của Shirai K. (2006, 2011) và Roland Asmar (2017) đã chứng minh CAVI phản ánh độ cứng của toàn bộ trục động mạch từ gốc động mạch chủ đến động mạch cổ chân và hoàn toàn độc lập với huyết áp tức thời. Nghiên cứu của Nakamura và cs (2008) trên 109 bệnh nhân chỉ ra CAVI tương quan thuận với mức độ xơ vữa động mạch vành và độ dày lớp nội trung mạc (IMT). Nghiên cứu của Joon và cs (2011) trên 320 bệnh nhân ĐTĐ ghi nhận tăng CAVI ($\ge 9$) có liên quan với dày IMT (OR = 5,77), mảng xơ vữa (OR = 5,36), bệnh thần kinh ngoại vi (OR = 2,03) và microalbumin niệu (OR = 2,47). Các nghiên cứu của Hisumoto T. và cs (2018), Namekata và cs (2019) cũng khẳng định CAVI tăng cao ở bệnh nhân ĐTĐ có tổn thương mạch vành và bệnh võng mạc. Tại Việt Nam, Lê Văn Dũng (2012) đã khảo sát chỉ số CAVI trên bệnh nhân chụp động mạch vành tại Bệnh viện Bạch Mai, xác định điểm cắt CAVI $\ge 8,65$ có giá trị dự báo bệnh mạch vành.
Về nồng độ Homocystein huyết tương: Cấu trúc phân tử và quá trình chuyển hóa homocystein được tổng kết qua nghiên cứu của Selhub Jacob (1999) và Miller (2012). Trong máu, homocystein tồn tại ở dạng gắn protein (chiếm khoảng 70-80%), dạng kết hợp dimer (Hcy-Hcy, Hcy-Cystein chiếm 10-20%) và dạng tự do (1-2%). Chuyển hóa homocystein gồm hai con đường: tái methyl hóa thành methionine (xúc tác bởi methionine synthase, MTHFR, phụ thuộc vitamin B12 và acid folic) và chuyển hóa sulphur tạo cystathionine (xúc tác bởi CBS, phụ thuộc vitamin B6). Tăng homocystein máu gây tổn thương tế bào nội mạc, tăng stress oxy hóa, tăng sinh cơ trơn mạch máu, oxy hóa LDL-C và thúc đẩy tạo huyết khối (Woo và cs, Sainani G.). Nghiên cứu Hoorn chỉ ra nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ tăng gấp 2,33 lần khi tăng mỗi 5 $\mu\text{mol/L}$ homocystein huyết tương. Nghiên cứu của Gonzalez và cs (2010), Li và cs (2021) đều xác nhận nồng độ homocystein ở nhóm ĐTĐ có loét bàn chân cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không loét. Tại Việt Nam, các tác giả Đỗ Trung Quân và cs (2013), Đặng Anh Đào và cs (2014), Phạm Toàn Trung và cs (2014) đã công bố các dữ liệu về sự tăng nồng độ homocystein ở bệnh nhân ĐTĐ có tổn thương võng mạc, tăng huyết áp và microalbumin niệu.
Vị trí của luận án: Luận án của Bùi Thế Long lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng cách khảo sát đồng thời chỉ số CAVI và nồng độ homocystein huyết tương trên một cỡ mẫu tương đối lớn (401 đối tượng), đối chiếu trực tiếp các chỉ số này với hình ảnh tổn thương hình thái mạch máu chi dưới qua siêu âm Doppler màu và phân độ loét bàn chân theo thang điểm Wagner - Meggitt tại một bệnh viện chuyên khoa nội tiết tuyến cuối ở Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên cơ sở vật lý - sinh lý học mạch máu và hóa sinh học chuyển hóa:
-
Nguyên lý tính toán chỉ số CAVI:
Giả thuyết thông số độ cứng $\beta$ của Hayashi:
$$\beta = \frac{\ln(Ps/Pd)}{\Delta D / Dd}$$
Phương trình Bramwell-Hill (1878):
$$PWV^2 = \frac{\Delta P}{\rho} \times \frac{V}{\Delta V}$$
Từ mối liên hệ giữa biến thiên thể tích và biến thiên đường kính mạch máu $\frac{V}{\Delta V} = \frac{D}{2\Delta D}$, phương trình xác định CAVI được thiết lập:
$$CAVI = \ln\left(\frac{Ps}{Pd}\right) \times \frac{2\rho}{\Delta P} \times PWV^2$$
Trong đó: $Ps$, $Pd$ là huyết áp tâm thu và tâm trương; $\Delta P = Ps - Pd$; $\rho$ là tỷ trọng máu; $PWV$ là vận tốc lan truyền sóng mạch từ van động mạch chủ đến cổ chân.
-
Tiêu chuẩn đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng:
- Phân loại mức độ loét bàn chân theo thang điểm Meggitt - Wagner (Độ 0 đến Độ 5).
- Phân loại giai đoạn lâm sàng đau cách hồi theo Leriche và Fontaine.
- Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ típ 2 theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2014).
- Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp theo Hội Tim mạch học Việt Nam (2018).
- Đánh giá thể trạng thừa cân, béo phì theo tiêu chuẩn BMI của Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (2000) và tỷ số vòng eo/vòng mông (WHR $\ge 0,90$ ở nam; $\ge 0,85$ ở nữ).
- Đánh giá mức lọc cầu thận (GFR) ước tính và phân loại microalbumin niệu (MAU).
| Bảng phân loại mức độ loét bàn chân theo Wagner – Meggitt |
Đặc điểm tổn thương mô bệnh học và giải phẫu |
| Độ 0 |
Không có vết thương hở, có thể có biến dạng bàn chân hoặc viêm mô tế bào |
| Độ 1 |
Loét nông, tổn thương giới hạn ở lớp da, không thâm nhập các mô ở sâu |
| Độ 2 |
Loét sâu qua tổ chức dưới da, tổn thương đụng chạm tới gân, xương, khớp, dây chằng |
| Độ 3 |
Tổn thương sâu kèm theo viêm gân, viêm tủy xương, ổ áp xe hoặc viêm mô tế bào sâu |
| Độ 4 |
Hoại tử khô hoặc ướt khu trú ở ngón chân hoặc phần trước của bàn chân |
| Độ 5 |
Hoại tử lan rộng toàn bộ cấu trúc bàn chân, đe dọa bảo tồn chi |
Phương pháp nghiên cứu thực tế
-
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, so sánh có đối chứng giữa 3 nhóm (nhóm nghiên cứu loét bàn chân, nhóm chứng bệnh ĐTĐ không loét, nhóm chứng người bình thường).
-
Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu tối thiểu được tính theo công thức xác định một giá trị tỷ lệ:
$$n = Z^2_{1-\alpha/2} \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Với mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), tỷ lệ ước tính loét bàn chân $p = 0,10$ (10%), độ chính xác mong muốn $d = 0,05$. Cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là $n = 138$. Để phòng ngừa sai số thu thập, cỡ mẫu thực tế được mở rộng lên 176 bệnh nhân ĐTĐ có LBC, 178 bệnh nhân ĐTĐ không LBC và 47 đối tượng chứng khỏe mạnh.
-
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân dưới 18 tuổi; ĐTĐ típ 1, ĐTĐ thai kỳ; người mắc các biến chứng cấp tính (hôn mê nhiễm toan ceton, tăng áp lực thẩm thấu, nhiễm toan lactic, đột quỵ não cấp tính); suy thận mạn lọc máu chu kỳ; bệnh lý tuyến giáp (suy giáp, cường giáp), Parkinson; liệt do chấn thương hoặc thoát vị đĩa đệm; loét do tỳ đè kéo dài; người đang sử dụng các vitamin B6, B12, acid folic.
-
Kỹ thuật và công cụ thu thập dữ liệu:
- Đo chỉ số CAVI: Thực hiện bằng máy đo xơ vữa tự động VaSera VS-1500N (Fukuda Denshi, Nhật Bản) tại Khoa Thăm dò chức năng - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Thiết bị ghi đồng thời điện tâm đồ, tâm thanh đồ và mạch ký tại 4 chi để tính toán thời gian dẫn truyền sóng xung ($T, tba, tb, t'b$) và vận tốc sóng mạch.
- Xét nghiệm Homocystein huyết tương: Thực hiện trên hệ thống máy miễn dịch tự động IMMULITE 2000 (Siemens) tại Khoa Hóa sinh - Bệnh viện Nội tiết Trung ương theo quy trình chuẩn hóa.
- Siêu âm mạch máu chi dưới: Thực hiện bằng máy siêu âm Doppler màu Philips HD 11 XE, đo độ dày lớp nội trung mạc (IMT) động mạch đùi chung hai bên, khảo sát sự hiện diện của mảng vữa xơ vôi hóa và đánh giá tình trạng hẹp, tắc động mạch ngoại vi.
- Xét nghiệm cận lâm sàng khác: Glucose máu, $\text{HbA}_{1\text{c}}$, bộ mỡ máu (Cholesterol toàn phần, Triglycerid, HDL-C, LDL-C), chức năng thận (Ure, Creatinin, eGFR), microalbumin niệu (MAU).
-
Xử lý số liệu: Số liệu được làm sạch, quản lý và phân tích bằng phần mềm thống kê y học chuyên dụng (SPSS), áp dụng các thuật toán so sánh biến định tính ($\chi^2$), biến định lượng ($t$-test, ANOVA), tương quan tuyến tính (Pearson/Spearman), hồi quy đa biến và dựng đường cong ROC (Receiver Operating Characteristic) để xác định điểm cắt, độ nhạy, độ đặc hiệu trong dự báo nguy cơ loét bàn chân.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Chương 1 tổng thuật chi tiết toàn bộ cơ sở lý luận y học và tổng quan các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài. Nội dung chương tập trung vào 4 trục lý thuyết:
- Biến chứng mạch máu mạn tính do bệnh ĐTĐ típ 2: Trình bày chi tiết cơ chế xơ vữa thành mạch dưới tác động của tình trạng tăng đường huyết mạn tính, rối loạn chức năng nội mạc thông qua sự ức chế tổng hợp Nitric Oxide (NO), gia tăng chất co mạch Endothelin-1, hoạt hóa Protein Kinase C (PKC), NF-$\kappa$B và chất ức chế hoạt hóa plasminogen PAI-1.
- Bệnh lý loét bàn chân đái tháo đường: Phân tích 5 khâu sinh bệnh học chính, làm rõ sự tương tác giữa tổn thương thần kinh cảm giác (mất cảm giác bảo vệ), biến dạng bàn chân do teo cơ gian cốt (tổn thương thần kinh vận động), khô nứt da (tổn thương thần kinh tự động) và tình trạng thiếu máu cục bộ do bệnh động mạch ngoại vi (xơ vữa vôi hóa lớp áo giữa dạng Monckeberg). Đồng thời trình bày bảng phân loại Wagner - Meggitt từ độ 0 đến độ 5.
- Chỉ số Tim - cổ chân (Cardio-Ankle Vascular Index - CAVI): Phân tích nguyên lý vật lý, phương trình toán học Hayashi và Bramwell-Hill; ưu điểm độc lập với huyết áp tức thời so với PWV; các yếu tố ảnh hưởng (tuổi, giới tính, thuốc điều trị hạ áp, statin, insulin, thuốc hạ đường huyết như Glimepiride); và vai trò chỉ điểm xơ vữa động mạch của CAVI.
- Nồng độ Homocystein huyết tương: Trình bày cấu trúc phân tử, tỷ lệ các dạng phân bố trong máu, hai chu trình chuyển hóa chính (tái methyl hóa và chuyển sulphur), các yếu tố gây tăng homocystein máu (di truyền đột biến enzym CBS, MTHFR; thiếu hụt dinh dưỡng vitamin B12, B6, folate; suy giảm chức năng thận) và cơ chế bệnh sinh gây xơ vữa thành mạch thông qua việc tạo ra các gốc oxy hóa tự do ($H_2O_2$, superoxide), kích thích oxy hóa LDL-C tạo tế bào bọt và tổn thương nội mạc.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả toàn bộ thiết kế nghiên cứu, tiêu chuẩn chọn mẫu, quy trình thu thập dữ liệu và kỹ thuật xét nghiệm thăm dò:
- Đối tượng: 401 người gồm 176 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có LBC, 178 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 không LBC và 47 người nhóm chứng khỏe mạnh. Địa điểm nghiên cứu đặt tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương từ 11/2014 đến 12/2021.
- Các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ được xây dựng chặt chẽ nhằm loại bỏ các yếu tố gây nhiễu nồng độ homocystein máu (như suy thận lọc máu chu kỳ, đang uống vitamin nhóm B/folate) và các nguyên nhân gây loét không do đái tháo đường.
- Quy trình khám lâm sàng chuẩn: Cân đo nhân trắc (chiều cao, cân nặng, vòng eo, vòng mông), tính BMI, WHR, phân độ đau cách hồi theo Fontaine, khám tổn thương thực thể bàn chân, bắt mạch mu chân và mạch chày sau.
- Quy trình kỹ thuật cận lâm sàng: Hướng dẫn chi tiết tư thế bệnh nhân, cách cuốn các băng huyết áp 4 chi, gắn điện cực và đầu dò tâm thanh đồ trên máy VaSera VS-1500N để thu được sóng xung mạch đạt tiêu chuẩn; kỹ thuật định lượng homocystein trên máy IMMULITE 2000; kỹ thuật siêu âm Doppler màu đo IMT và phát hiện mảng xơ vữa động mạch đùi trên máy Philips HD 11 XE.
- Nêu rõ các phương pháp xử lý thống kê y học và cam kết đảm bảo y đức theo quy định của Bộ Y tế và Học viện Quân y.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm thông qua hệ thống bảng biểu và đồ thị phân tích:
- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Phân tích cơ cấu tuổi, giới tính, thời gian phát hiện bệnh ĐTĐ, các chỉ số nhân trắc học (BMI, WHR), tỷ lệ tăng huyết áp, tỷ lệ đau cách hồi theo Fontaine và triệu chứng mạch chi dưới yếu hoặc mất mạch giữa các nhóm.
- Đặc điểm các chỉ số cận lâm sàng và hình thái mạch máu:
- Các chỉ số sinh hóa máu, nồng độ glucose, $\text{HbA}_{1\text{c}}$, bộ mỡ máu, chỉ số microalbumin niệu (MAU) và mức lọc cầu thận ước tính (GFR).
- Độ dày nội trung mạc (IMT) động mạch đùi chung 2 bên: Nhóm ĐTĐ có LBC có tỷ lệ dày IMT và mảng xơ vữa cao hơn rõ rệt so với nhóm không LBC và nhóm chứng.
- Tỷ lệ phát hiện tắc, hẹp động mạch chi dưới trên siêu âm Doppler ở nhóm bệnh nhân có loét bàn chân.
- Đặc điểm chỉ số CAVI và nồng độ Homocystein huyết tương:
- Giá trị trung bình của chỉ số CAVI ở nhóm ĐTĐ có LBC cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm ĐTĐ không LBC và nhóm chứng bình thường; tỷ lệ bệnh nhân có $CAVI \ge 9$ ở nhóm có LBC chiếm ưu thế.
- Nồng độ homocystein huyết tương trung bình ở nhóm ĐTĐ có LBC tăng cao hơn rõ rệt so với nhóm ĐTĐ không LBC và nhóm chứng khỏe mạnh.
- Sự biến thiên của CAVI và Hcy theo các mức độ nặng của vết loét bàn chân theo phân loại Wagner - Meggitt (từ độ 1 đến độ 5).
- Phân tích mối tương quan và giá trị dự báo:
- Tương quan tuyến tính đơn biến: Chỉ số CAVI tương quan thuận với tuổi, thời gian mắc bệnh ĐTĐ, độ dày IMT động mạch đùi và tương quan nghịch với mức lọc cầu thận GFR; nồng độ Hcy tương quan thuận với tuổi, IMT và tương quan nghịch với GFR. Giữa Hcy và CAVI có mối tương quan thuận rõ rệt ở bệnh nhân ĐTĐ có LBC.
- Phân tích hồi quy đa biến xác nhận CAVI và Homocystein là các yếu tố liên quan độc lập với tổn thương xơ vữa tắc mạch chi dưới.
- Phân tích diện tích dưới đường cong ROC biểu thị giá trị của CAVI, Homocystein và IMT động mạch đùi trong việc dự báo nguy cơ biến chứng loét bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
Chương 4 dành để đối chiếu, phân tích và biện luận các kết quả nghiên cứu thu được với các công trình khoa học trong và ngoài nước:
- Bàn luận về đặc điểm lâm sàng và các yếu tố nguy cơ truyền thống: Phân tích mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh ĐTĐ, kiểm soát đường huyết kém, tăng huyết áp, béo bụng (WHR) và tình trạng rối loạn lipid máu với sự khởi phát biến chứng bàn chân.
- Bàn luận về biến đổi chỉ số CAVI: So sánh giá trị CAVI đo được với các nghiên cứu của Shirai K., Nakamura, Joon, Hisumoto. Biện giải cơ chế vì sao CAVI phản ánh chính xác tình trạng xơ cứng thành mạch mà không bị sai lệch bởi áp lực huyết áp tại thời điểm đo. Phân tích sự suy giảm độ đàn hồi thành mạch dưới tác động của hiện tượng ngộ độc đường huyết và biến đổi cấu trúc collagen, elastin lớp áo giữa động mạch.
- Bàn luận về nồng độ Homocystein: So sánh nồng độ Hcy ở nhóm loét và không loét với các công bố quốc tế của Gonzalez (2010), Mao (2012), Li (2021) và các nghiên cứu trong nước của Đỗ Trung Quân (2013), Đặng Anh Đào (2014). Làm rõ vai trò của tăng Hcy huyết tương trong việc thúc đẩy stress oxy hóa, hủy hoại tế bào nội mạc, tăng kết tập tiểu cầu và ức chế quá trình tái tạo mô hạt tại ổ loét bàn chân.
- Bàn luận về mối liên quan giữa CAVI, Homocystein với các tổn thương mạch máu qua siêu âm và nguy cơ loét bàn chân: Phân tích sự tương đồng giữa tình trạng tăng CAVI, tăng Hcy với mức độ dày IMT và hình ảnh mảng xơ vữa gây tắc hẹp động mạch đùi chung. Biện luận về khả năng ứng dụng kết hợp CAVI và Hcy như các dấu ấn sinh học bổ trợ có giá trị trong sàng lọc sớm và phân tầng nguy cơ biến chứng loét bàn chân ở người bệnh ĐTĐ típ 2.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được những kết quả cụ thể và đóng góp mới trên cả phương diện lý luận y học và ứng dụng thực tiễn lâm sàng:
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện tại Việt Nam về sự biến đổi của chỉ số xơ cứng động mạch không xâm lấn CAVI và nồng độ homocystein huyết tương ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có biến chứng loét bàn chân, so sánh đối chứng chặt chẽ với nhóm ĐTĐ chưa loét và người bình thường.
- Làm sáng tỏ mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự gia tăng chỉ số CAVI và nồng độ homocystein với mức độ tổn thương hình thái thành mạch chi dưới (độ dày IMT, mảng xơ vữa, tình trạng tắc mạch trên siêu âm Doppler) và mức độ trầm trọng của vết loét theo thang điểm Wagner - Meggitt.
- Chứng minh tính độc lập và giá trị bổ trợ của CAVI và homocystein bên cạnh các yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển trong cơ chế bệnh sinh của biến chứng mạch máu chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường.
Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng lâm sàng
- Khẳng định tính khả thi, an toàn và độ tin cậy của phương pháp đo CAVI bằng máy tự động trong việc thăm dò chức năng xơ cứng động mạch ở người bệnh đái tháo đường.
- Đề xuất việc đưa chỉ số CAVI và định lượng nồng độ homocystein huyết tương vào quy trình khám sàng lọc, theo dõi định kỳ nhằm phát hiện sớm các tổn thương xơ vữa mạch máu tiềm tàng ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao phát triển loét bàn chân.
- Thiết lập các ngưỡng cắt (cut-off) trên đường cong ROC cho chỉ số CAVI và nồng độ homocystein, hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng tiên lượng nguy cơ loét bàn chân, từ đó có kế hoạch can thiệp điều trị nội khoa tích cực hoặc chuyển tuyến chuyên khoa chăm sóc bàn chân kịp thời nhằm giảm tỷ lệ cắt cụt chi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Một số hạn chế của luận án
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tại một thời điểm nên chủ yếu xác lập mối liên quan và tương quan thống kê, chưa thể khẳng định hoàn toàn mối quan hệ nhân quả tuyệt đối giữa biến đổi CAVI, homocystein với sự khởi phát của tổn thương loét bàn chân.
- Đối tượng nghiên cứu được thu thập từ một trung tâm chuyên khoa nội tiết tuyến cuối (Bệnh viện Nội tiết Trung ương) bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, có thể tồn tại sai số lựa chọn do tỷ lệ bệnh nhân nặng và tổn thương mạch máu phức tạp tập trung cao hơn so với cộng đồng chung.
- Luận án chưa tiến hành theo dõi dọc tiến triển của vết loét, thời gian liền sẹo hoặc tỷ lệ cắt cụt chi sau các phác đồ can thiệp điều trị hạ homocystein hoặc kiểm soát độ cứng thành mạch theo thời gian.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Cần triển khai các nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu (cohort studies) theo dõi dọc nhiều năm để đánh giá chính xác vai trò dự báo biến cố loét bàn chân mới xuất hiện ở những bệnh nhân ĐTĐ có tăng CAVI và tăng homocystein ban đầu.
- Thực hiện các thử nghiệm lâm sàng can thiệp có đối chứng đánh giá hiệu quả của việc điều trị hạ homocystein máu (bổ sung acid folic, vitamin B6, B12) hoặc các thuốc cải thiện độ mềm mại thành mạch đối với tốc độ liền vết loét và giảm tỷ lệ cắt cụt chi ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng trong ngành y tế:
- Đối với bác sĩ chuyên khoa Nội tiết - Đái tháo đường, Tim mạch và Phẫu thuật mạch máu: Luận án cung cấp các thông số thực tế, phương pháp kết hợp thăm dò không xâm lấn (CAVI, siêu âm Doppler) và xét nghiệm hóa sinh (Homocystein) để ứng dụng trực tiếp vào quy trình khám sàng lọc, chẩn đoán phân độ tổn thương và phân tầng nguy cơ loét bàn chân.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học chuyên ngành Nội khoa: Luận án là tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc, phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có đối chứng, cách xử lý số liệu tương quan đa biến, phân tích đường cong ROC cũng như kỹ thuật tổng quan y văn chuyên sâu.
- Đối với các nhà quản lý y tế và xây dựng hướng dẫn lâm sàng: Cung cấp cơ sở khoa học để xem xét bổ sung các danh mục kỹ thuật đo độ xơ vữa động mạch không xâm lấn vào hướng dẫn quản lý toàn diện bệnh đái tháo đường tại các cơ sở y tế chuyên khoa.
Câu hỏi thường gặp
1. Chỉ số CAVI khác biệt như thế nào so với phương pháp đo vận tốc sóng mạch (PWV) truyền thống?
Chỉ số CAVI được phát triển dựa trên thông số độ cứng $\beta$ của Hayashi và phương trình Bramwell-Hill. Điểm khác biệt mấu chốt là thuật toán tính toán của máy đo CAVI đã loại trừ hoàn toàn sự tác động của huyết áp tức thời tại thời điểm đo, giúp kết quả phản ánh chính xác độ cứng nội tại của toàn bộ trục động mạch từ quai động mạch chủ đến cổ chân, không bị dao động theo huyết áp như PWV.
2. Nồng độ Homocystein huyết tương tham gia vào cơ chế gây xơ vữa mạch máu và loét bàn chân bằng con đường nào?
Homocystein tự oxy hóa trong máu sinh ra các gốc oxy hóa tự do ($H_2O_2$, superoxide), làm suy giảm tổng hợp Nitric Oxide (NO), gây tổn thương và rối loạn chức năng tế bào nội mạc mạch máu. Đồng thời, homocystein thúc đẩy quá trình oxy hóa LDL-C tạo tế bào bọt, kích thích tăng sinh tế bào cơ trơn thành mạch và hoạt hóa các yếu tố đông máu dẫn tới xơ vữa huyết khối, giảm lưu lượng máu nuôi dưỡng chi dưới và làm chậm quá trình liền vết thương.
3. Đối tượng nghiên cứu của luận án gồm những nhóm nào và được thu thập tại đâu?
Nghiên cứu được thực hiện trên 401 đối tượng tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương (từ 11/2014 đến 12/2021), chia thành 3 nhóm: 176 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có biến chứng loét bàn chân (Khoa Chăm sóc Bàn chân), 178 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 không có loét bàn chân (Khoa Điều trị yêu cầu) và 47 người trưởng thành khỏe mạnh không mắc ĐTĐ và tăng huyết áp làm nhóm chứng.
4. Luận án sử dụng những công cụ, thiết bị chính nào để thu thập các chỉ số thăm dò cận lâm sàng?
Nghiên cứu sử dụng máy đo xơ vữa tự động VaSera VS-1500N (Fukuda Denshi) để đo chỉ số CAVI, hệ thống máy miễn dịch tự động IMMULITE 2000 (Siemens) để định lượng nồng độ homocystein huyết tương, và máy siêu âm Doppler màu Philips HD 11 XE để khảo sát độ dày nội trung mạc (IMT) cũng như tình trạng xơ vữa tắc mạch chi dưới.
5. Thang điểm nào được tác giả sử dụng để đánh giá và phân loại mức độ nặng của tổn thương loét bàn chân?
Tác giả sử dụng hệ thống phân loại Meggitt - Wagner gồm 6 mức độ tổn thương (từ Độ 0: không có vết thương hở, biến dạng chân; Độ 1: loét nông; Độ 2: loét sâu đến gân/khớp; Độ 3: loét sâu kèm viêm xương/áp xe; Độ 4: hoại tử khu trú ngón chân/tiền bàn chân; đến Độ 5: hoại tử toàn bộ bàn chân).
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của Bùi Thế Long là công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết thỏa đáng hai mục tiêu khoa học về khảo sát chỉ số tim - cổ chân (CAVI) và nồng độ homocystein huyết tương ở người bệnh đái tháo đường típ 2 có loét bàn chân tại Việt Nam. Các kết quả thực nghiệm trên 401 đối tượng đã chứng minh chỉ số CAVI và nồng độ homocystein ở nhóm có biến chứng loét bàn chân tăng cao rõ rệt và tương quan chặt chẽ với tổn thương dày nội trung mạc, xơ vữa tắc mạch chi dưới trên siêu âm Doppler cũng như phân độ nặng theo thang điểm Wagner. Công trình cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho việc ứng dụng phối hợp đo CAVI và xét nghiệm homocystein trong thực hành lâm sàng nhằm phát hiện sớm tổn thương mạch máu, phân tầng nguy cơ và tối ưu hóa chiến lược điều trị phòng ngừa biến chứng cắt cụt chi ở bệnh nhân đái tháo đường.