Tổng quan nghiên cứu

Bệnh đái tháo đường hiện là một trong những thách thức y tế công cộng hàng đầu trên toàn cầu. Theo báo cáo của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế, toàn cầu có khoảng 415 triệu người mắc bệnh vào năm 2015 và dự báo sẽ tăng vọt lên 642 triệu người vào năm 2040. Tại Việt Nam, số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận tỷ lệ hiện mắc bệnh ở nam giới là 4,7% và nữ giới là 5,0%, kéo theo hàng ngàn ca tử vong mỗi năm. Biến chứng loét bàn chân do đái tháo đường chiếm tỷ lệ mắc mới từ 1,9% đến 2,2% mỗi năm trên quy mô toàn cầu; đặc biệt, cứ 6 người bệnh bị loét chân thì có 1 trường hợp phải đối mặt với nguy cơ đoạn chi.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng loét bàn chân tại Việt Nam có thể phòng ngừa hiệu quả thông qua việc kiểm soát đường huyết và duy trì hành vi tự chăm sóc đúng cách. Tuy nhiên, nhận thức và kỹ năng thực hành của bệnh nhân tại các khu vực y tế tuyến huyện miền núi vẫn còn nhiều khoảng trống. Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng của tác giả Hồ Xuân Hùng, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Võ Thị Kim Anh tại Trường Đại học Thăng Long, được thực hiện nhằm mô tả thực trạng thực hành tự chăm sóc phòng ngừa loét bàn chân và phân tích các yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường typ 2 đến khám tại Trung tâm Y tế huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum từ tháng 1/2019 đến tháng 4/2019.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại địa bàn miền núi biên giới với 93,7% đối tượng cư trú ở nông thôn. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học tin cậy để địa phương xây dựng các can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe, hướng tới mục tiêu giảm thiểu tỷ lệ biến chứng bàn chân và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ chế bệnh sinh tổn thương bàn chân đái tháo đường và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thực hành của Nhóm công tác Quốc tế về Bàn chân Đái tháo đường kết hợp cùng Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. Cơ chế bệnh sinh chỉ ra rằng sự kết hợp giữa tổn thương thần kinh ngoại biên, xơ vữa động mạch ngoại vi và nhiễm trùng là căn nguyên chủ yếu dẫn tới loét. Tổn thương thần kinh cảm giác làm suy giảm hoặc mất cảm giác bảo vệ, khiến người bệnh không nhận biết các chấn thương cơ học hay áp lực tỳ đè bất thường. Tổn thương thần kinh tự động gây giảm tiết mồ hôi, khô nứt da và dẫn tới biến dạng cấu trúc giải phẫu bàn chân.

Khung phân loại lâm sàng của Wagner và Meggitt với 6 cấp độ từ độ 0 (chưa loét nhưng có yếu tố nguy cơ) đến độ 5 (hoại tử toàn bộ bàn chân) được vận dụng để nhận diện nguy cơ. Bộ tiêu chuẩn đánh giá hành vi bao gồm 18 chỉ báo thực hành then chốt: kiểm tra bàn chân hàng ngày, rửa chân, kiểm tra nhiệt độ nước, lau khô các kẽ ngón, dưỡng ẩm, kỹ thuật cắt móng móng thẳng, lựa chọn giày dép kín mũi, không đi chân trần và tuân thủ lịch tái khám định kỳ. Quy chuẩn thực hành đúng chung được xác định khi đối tượng đạt từ 50% tổng số tiêu chí trở lên (tối thiểu 9 trên 18 thực hành).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước tính tỷ lệ cho một quần thể với độ tin cậy 95% (tương ứng trị số Z là 1,96), sai số tuyệt đối cho phép d = 0,05, và tỷ lệ thực hành đúng tham chiếu p = 0,257 dựa trên công trình nghiên cứu trước đó tại Bệnh viện Quận Thủ Đức. Cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là 294 người; tác giả đã thu thập thực tế 300 bệnh nhân đái tháo đường typ 2. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng cho tất cả bệnh nhân trên 18 tuổi đến khám bệnh tại Trung tâm Y tế huyện Sa Thầy trong thời gian từ tháng 1/2019 đến tháng 4/2019 thỏa mãn tiêu chí lựa chọn và loại trừ.

Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc gồm 4 phần: nhân khẩu học, tiền sử bệnh lý, triệu chứng cơ năng - thực thể và 18 hành vi thực hành tự chăm sóc. Dữ liệu được làm sạch, nhập liệu hai lần bằng phần mềm EpiData phiên bản 3.01 và phân tích trên phần mềm thống kê Stata phiên bản 13. Nghiên cứu sử dụng kiểm định Chi-bình phương và kiểm định chính xác Fisher ở ngưỡng ý nghĩa p < 0,05 để tìm mối liên quan đơn biến, sau đó ứng dụng mô hình tuyến tính tổng quát để lượng giá mức độ liên quan thông qua tỷ số tỷ lệ hiện mắc cùng khoảng tin cậy 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mẫu nghiên cứu gồm 300 bệnh nhân có tỷ lệ nữ giới chiếm 66,3% và nam giới chiếm 33,7%. Độ tuổi từ 51 đến 60 chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,3%, tiếp theo là nhóm 61 đến 70 tuổi chiếm 28,7%. Về tiền sử bệnh, 90,0% người bệnh có thời gian phát hiện đái tháo đường dưới 5 năm; 54,3% có người thân ruột thịt mắc đái tháo đường typ 2; 40,3% từng có tiền sử vết thương lâu lành trên 2 tuần; 12,3% từng bị loét bàn chân và 5,7% từng phải cắt cụt chi. Mặc dù có 62,3% người bệnh đã từng nghe hướng dẫn tự chăm sóc bàn chân (trong đó 44,9% nhận từ nhân viên y tế), tỷ lệ thực hành đúng các hành vi cụ thể vẫn còn rất nhiều hạn chế:

  • Tỷ lệ kiểm tra bàn chân hàng ngày chỉ đạt 20,3%, trong khi có tới 73,0% bệnh nhân chỉ kiểm tra chân khi đã phát sinh triệu chứng bất thường.
  • Về vệ sinh và bảo vệ da: 88,0% người bệnh rửa chân hàng ngày, nhưng có 41,3% không bao giờ kiểm tra nhiệt độ của nước trước khi rửa và 38,7% thỉnh thoảng vẫn ngâm chân trong nước nóng. Tỷ lệ lau khô hoàn toàn bàn chân và kẽ ngón sau khi rửa thường xuyên chỉ đạt 7,3%.
  • Hành vi nguy cơ cao: 47,7% người bệnh thường xuyên đi chân trần trong nhà; 51,3% không bao giờ kiểm tra dị vật trong giày dép trước khi xỏ chân; 87,7% cắt móng chân theo khóe tròn thay vì cắt đường thẳng.
  • Thăm khám lâm sàng ghi nhận 41,7% đối tượng có triệu chứng thực thể ở chân (vết chai chiếm 45,7%, vết thương hở chiếm 28,6%, vết loét chiếm 25,7%) và 52,2% bệnh nhân xuất hiện triệu chứng tê bì giảm cảm giác.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ người bệnh có hành vi nguy cơ cao như đi chân trần trong nhà (47,7%) và cắt khóe móng tròn (87,7%) tại huyện Sa Thầy tương đồng với nhiều nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới. Điển hình, nghiên cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy ghi nhận 61,0% bệnh nhân đi chân trần và 66,7% không chăm sóc chân đúng cách; nghiên cứu tại Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ thực hành tốt chỉ chiếm 27,6%. Trên bình diện quốc tế, nghiên cứu tại Malaysia cho thấy 61,8% bệnh nhân có thực hành kém và nghiên cứu tại Brazil chỉ ra 49,4% người bệnh không có thói quen quan sát bàn chân mỗi ngày.

Nguyên nhân chính dẫn tới thực trạng này tại Sa Thầy là do đặc điểm địa bàn nông thôn chiếm 93,7%, tập quán sinh hoạt gắn liền với lao động nông nghiệp khiến thói quen đi chân trần hoặc đi dép xỏ ngón hở mũi (42,7%) trở nên phổ biến. Bên cạnh đó, tình trạng tổn thương thần kinh ngoại biên với 52,2% bệnh nhân bị tê bì làm giảm cảm giác đau, khiến người bệnh chủ quan không phát hiện các tổn thương vi mô.

Trong trình bày học thuật, mối tương quan giữa các nhóm biến số dân số - tiền sử bệnh với tỷ lệ thực hành đúng có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột chồng phân nhóm hành vi nguy cơ và bảng tổng hợp chỉ số tỷ lệ hiện mắc. Điều này giúp làm rõ vai trò quyết định của công tác truyền thông trực tiếp từ cán bộ y tế đối với việc cải thiện hành vi tự chăm sóc của người bệnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, 4 nhóm giải pháp can thiệp trọng tâm được đề xuất nhằm nâng cao năng lực tự bảo vệ bàn chân cho bệnh nhân đái tháo đường:

  1. Thiết lập góc tư vấn và khám bàn chân chuyên biệt tại cơ sở điều trị: Ban Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Sa Thầy cần chỉ đạo Khoa Khám bệnh thành lập góc giáo dục sức khỏe và kiểm tra bàn chân định kỳ cho bệnh nhân ngoại trú. Mục tiêu nâng tỷ lệ người bệnh tự kiểm tra chân hàng ngày từ 20,3% hiện tại lên tối thiểu 65% sau 6 tháng can thiệp thông qua hướng dẫn thao tác trực quan.
  2. Chuẩn hóa tài liệu truyền thông trực quan bằng hình ảnh và video ngắn: Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản và Truyền thông giáo dục sức khỏe phối hợp xây dựng tờ rơi có hình ảnh tương phản cao hướng dẫn 3 nguyên tắc sống còn: kỹ thuật cắt móng ngang thẳng, cách kiểm tra dị vật trong giày và kiểm tra nhiệt độ nước bằng mu bàn tay. Mục tiêu kéo giảm tỷ lệ cắt móng sai cách từ 87,7% xuống dưới 30% trong lộ trình 12 tháng.
  3. Đào tạo liên tục cho mạng lưới y tế tuyến xã, thị trấn: Trung tâm Y tế huyện tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề 2 lần mỗi năm cho 100% cán bộ y tế trạm y tế xã và nhân viên y tế thôn bản về kỹ năng phát hiện bàn chân nguy cơ bằng trắc nghiệm Monofilament 10g và nhận diện biến chứng bàn chân sớm.
  4. Xây dựng mô hình câu lạc bộ người bệnh đái tháo đường và gia đình: Hội Người cao tuổi phối hợp cùng trạm y tế tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ định kỳ hàng quý, lồng ghép sự tham gia của người thân sống cùng (nhóm chiếm 92,0% trong nghiên cứu) để hỗ trợ quan sát, chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân suy giảm thị lực (nhóm biến chứng mắt chiếm 66,7%).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Bác sĩ lâm sàng và điều dưỡng phụ trách quản lý bệnh không lây nhiễm: Cung cấp bằng chứng thực địa về những sai lầm phổ biến nhất trong hành vi của người bệnh (ngâm nước nóng, đi chân trần, cắt khóe móng), từ đó tối ưu hóa phác đồ tư vấn ngoại trú trong các đợt khám định kỳ.
  2. Cán bộ quản lý y tế công cộng tuyến huyện và tỉnh: Tài liệu tham khảo quan trọng giúp hoạch định chính sách can thiệp y tế dự phòng, phân bổ nguồn lực truyền thông phù hợp với địa bàn vùng sâu, vùng xa có mật độ dân cư thưa thớt và giao thông khó khăn.
  3. Học viên sau đại học và sinh viên khối ngành Khoa học Sức khỏe: Nguồn tư liệu chuẩn mực về phương pháp triển khai nghiên cứu cắt ngang mô tả, quy trình thiết kế công cụ đo lường 18 chỉ báo thực hành theo chuẩn quốc tế và phương pháp xử lý số liệu y sinh học bằng Stata.
  4. Người bệnh đái tháo đường typ 2 và người chăm sóc: Cung cấp hệ thống kiến thức tự chăm sóc khoa học, dễ hiểu, giúp nhận diện sớm các dấu hiệu nguy hiểm ở bàn chân để phòng ngừa biến chứng loét và nguy cơ tàn phế.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao người bệnh đái tháo đường tuyệt đối không được đi chân trần kể cả trong nhà?
Nghiên cứu ghi nhận 47,7% người bệnh thường xuyên đi chân trần trong nhà và 52,2% có triệu chứng tê bì chân. Biến chứng thần kinh ngoại biên làm mất cảm giác đau bảo vệ, do đó khi giẫm phải vật sắc nhọn, dằm gỗ hoặc dị vật nhỏ, người bệnh hoàn toàn không nhận biết. Vết thương nhỏ này dễ dàng tiến triển thành ổ loét sâu và hoại tử mô dưới da.

Tại sao việc ngâm chân bằng nước nóng lại nguy hiểm đối với người bệnh đái tháo đường?
Nghiên cứu chỉ ra 38,7% bệnh nhân thỉnh thoảng ngâm chân nước nóng trong khi 41,3% không bao giờ kiểm tra nhiệt độ nước. Do giảm cảm giác nhiệt độ ở đầu chi, người bệnh không cảm nhận được nước quá nóng, dẫn đến bỏng nhiệt sâu. Bỏng da kết hợp với tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng cục bộ sẽ tạo ra các vết loét khó lành và nguy cơ nhiễm trùng huyết nghiêm trọng.

Kỹ thuật cắt móng chân đúng chuẩn y khoa cho người bệnh đái tháo đường là gì?
Người bệnh phải cắt móng theo một đường ngang thẳng, không được bấm sâu vào hai bên khóe móng hình vòng cung (nghiên cứu ghi nhận 87,7% người bệnh cắt khóe tròn sai cách). Cắt khóe tròn dễ làm móng mọc chọc thịt, gây trầy xước mô mềm xung quanh, tạo đường vào cho vi khuẩn gây viêm mủ ngón chân và viêm tủy xương.

Yếu tố gia đình và người sống cùng có vai trò như thế nào trong phòng ngừa loét bàn chân?
Trong mẫu nghiên cứu có tới 92,0% người bệnh sống cùng gia đình và 66,7% có biến chứng về mắt gây suy giảm thị lực. Người thân đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ kiểm tra gan bàn chân, kẽ ngón chân hàng ngày và hỗ trợ cắt móng chân an toàn cho người cao tuổi, giúp phát hiện sớm tổn thương trước khi biến chứng nặng.

Khi phát hiện vết chai hoặc vết xước nhỏ ở bàn chân, người bệnh cần xử trí ra sao?
Tuyệt đối không tự ý dùng dao, kéo cắt gọt vết chai hay chọc vỡ các bóng nước (nhóm triệu chứng thực thể chiếm 41,7% trong nghiên cứu). Người bệnh cần rửa sạch bằng nước muối sinh lý, băng gạc vô khuẩn và đến cơ sở y tế có chuyên khoa nội tiết để được nhân viên y tế xử lý vô khuẩn, tránh nhiễm trùng lan rộng.

Kết luận

  • Luận văn phản ánh toàn diện thực trạng thực hành tự chăm sóc phòng ngừa loét bàn chân của 300 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Trung tâm Y tế huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum với tỷ lệ thực hành đúng ở nhiều nội dung then chốt còn rất thấp.
  • Nghiên cứu chỉ ra các lỗ hổng hành vi nghiêm trọng: 73,0% chỉ kiểm tra chân khi có vấn đề, 87,7% cắt móng sai kỹ thuật, 47,7% đi chân trần trong nhà và 41,3% không kiểm tra nhiệt độ nước rửa chân.
  • Tỷ lệ ghi nhận tổn thương thực thể lên tới 41,7% (vết chai, vết thương, vết loét) cùng 5,7% đối tượng có tiền sử cắt cụt chi khẳng định tính cấp thiết của các can thiệp y tế dự phòng tại tuyến y tế cơ sở.
  • Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là cung cấp bức tranh dịch tễ học thực chứng tại vùng dân cư nông thôn miền núi Tây Nguyên, tạo tiền đề xây dựng hướng dẫn can thiệp hành vi có tính khả thi cao.
  • Trung tâm Y tế huyện Sa Thầy và các đơn vị y tế tương đồng cần triển khai ngay chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe trực quan và tập huấn chuyên môn cho cán bộ y tế trong giai đoạn 2019-2025 nhằm bảo vệ đôi chân người bệnh đái tháo đường hiệu quả.