Luận văn thạc sĩ thực hành tự chăm sóc phòng ngừa loét bàn chân của người bệnh đái tháo đường typ 2 và các yếu tố liên quan tại trung tâm y tế huyện sa thầy tỉnh kon tum

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực hành tự chăm sóc phòng ngừa loét bàn chân cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại trung tâm y tế huyện Sa Thầy.

Trường đại học

Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

91
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh đái tháo đường typ 2

Bệnh đái tháo đường typ 2 là một bệnh lý mạn tính, xảy ra khi cơ thể không sản xuất đủ insulin hoặc không sử dụng insulin hiệu quả. Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ, bệnh này có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng, bao gồm loét bàn chân. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên toàn cầu đang gia tăng, đặc biệt ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh cũng đang tăng nhanh, với nhiều người không được chẩn đoán kịp thời. Việc chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa loét bàn chân là rất quan trọng để giảm thiểu biến chứng cho người bệnh. Theo nghiên cứu, có khoảng 1,9-2,2% người bệnh đái tháo đường bị loét chân mỗi năm, và việc chăm sóc bàn chân đúng cách có thể ngăn ngừa tình trạng này.

1.1 Định nghĩa và phân loại bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường được phân loại thành nhiều loại, trong đó đái tháo đường typ 2 là phổ biến nhất. Bệnh này thường xảy ra ở người lớn tuổi và có liên quan đến lối sống không lành mạnh. Việc nhận biết sớm các triệu chứng và thực hiện các biện pháp chăm sóc sức khỏe là rất cần thiết. Theo các tiêu chuẩn chẩn đoán, người bệnh có thể được xác định thông qua các xét nghiệm glucose huyết tương. Việc phân loại bệnh giúp xác định phương pháp điều trị và chăm sóc phù hợp cho từng bệnh nhân.

1.2 Tình hình mắc bệnh đái tháo đường tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng. Theo báo cáo của WHO, số người mắc bệnh đã tăng từ 1-2% lên 4-5% trong vòng 20 năm qua. Nhiều người bệnh không được phát hiện kịp thời, dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như loét bàn chân. Việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh về chăm sóc bàn chân là rất cần thiết để giảm thiểu nguy cơ mắc các biến chứng này.

II. Thực hành tự chăm sóc phòng ngừa loét bàn chân

Thực hành tự chăm sóc là một phần quan trọng trong việc phòng ngừa loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2. Người bệnh cần được hướng dẫn về cách chăm sóc bàn chân hàng ngày, bao gồm việc kiểm tra bàn chân để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường. Việc giữ cho bàn chân sạch sẽ và khô ráo cũng rất quan trọng. Nghiên cứu cho thấy rằng những bệnh nhân thực hiện tốt các biện pháp tự chăm sóc có tỷ lệ loét bàn chân thấp hơn. Các biện pháp này bao gồm việc chọn giày dép phù hợp, tránh đi chân trần và sử dụng các sản phẩm chăm sóc da để giữ ẩm cho bàn chân.

2.1 Các biện pháp chăm sóc bàn chân

Các biện pháp chăm sóc bàn chân bao gồm việc rửa chân hàng ngày, kiểm tra bàn chân để phát hiện các vết thương hoặc dấu hiệu nhiễm trùng. Người bệnh cũng nên tránh ngâm chân trong nước quá lâu và sử dụng kem dưỡng ẩm để giữ cho da không bị khô. Việc cắt móng chân đúng cách cũng rất quan trọng để tránh gây tổn thương cho da. Những biện pháp này giúp giảm thiểu nguy cơ loét bàn chân và các biến chứng nghiêm trọng khác.

2.2 Giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân

Giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân đái tháo đường là một yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa loét bàn chân. Các chương trình giáo dục nên tập trung vào việc cung cấp thông tin về bệnh lý, cách chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa biến chứng. Người bệnh cần được khuyến khích tham gia các buổi tư vấn và khám sức khỏe định kỳ để theo dõi tình trạng bệnh. Việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của chăm sóc bàn chân sẽ giúp người bệnh chủ động hơn trong việc bảo vệ sức khỏe của mình.

III. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về thực hành tự chăm sóc phòng ngừa loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Sa Thầy, Kon Tum đã chỉ ra rằng nhiều bệnh nhân chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp chăm sóc cần thiết. Kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa những bệnh nhân được giáo dục sức khỏe và những bệnh nhân không được giáo dục. Việc áp dụng các biện pháp can thiệp giáo dục sức khỏe có thể giúp cải thiện thực hành tự chăm sóc và giảm thiểu nguy cơ loét bàn chân. Điều này không chỉ có lợi cho sức khỏe của bệnh nhân mà còn giảm gánh nặng cho hệ thống y tế.

3.1 Đánh giá thực hành tự chăm sóc

Đánh giá thực hành tự chăm sóc của bệnh nhân cho thấy rằng nhiều người chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc chăm sóc bàn chân. Một số bệnh nhân vẫn còn thụ động trong việc kiểm tra và chăm sóc bàn chân của mình. Việc giáo dục và nâng cao nhận thức cho bệnh nhân là rất cần thiết để cải thiện tình trạng này.

3.2 Ứng dụng kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc xây dựng các chương trình giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân đái tháo đường. Các chương trình này nên được thiết kế để phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của từng nhóm bệnh nhân. Việc áp dụng các biện pháp can thiệp giáo dục sẽ giúp nâng cao nhận thức và thực hành tự chăm sóc, từ đó giảm thiểu nguy cơ loét bàn chân và các biến chứng nghiêm trọng khác.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ thực hành tự chăm sóc phòng ngừa loét bàn chân của người bệnh đái tháo đường typ 2 và các yếu tố liên quan tại trung tâm y tế huyện sa thầy tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là một bệnh mạn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin, một hóc-môn điều hòa lượng đường trong máu, hoặc khi cơ thể không thể sử dụng insulin hiệu quả mà nó sinh ra [31]. Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (American Diabetes Association - ADA) – 2011 [27], [29]:một người bệnh được coi là ĐTĐ nếu có một trong các đặc điểm sau: - HbA1c ≥ 6.5%: Glucosylated hemoglobin là tên gọi đại diện cho một số các hemoglobin khác nhau xuất hiện trong huyết thanh. Kết quả của việc gắn glucose hoặc sự chuyển hóa glucose vào hemoglobulin (HbA0), vì vậy có nhiều loại hemoglobulin HbA1a, HbA1b, HbA1c và có tên gọi chung là HbA1 .2 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ – ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây: a) Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Người bệnh phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc: b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L).

Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện Thang Long University Library 4 theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Người bệnh nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó người bệnh ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày. Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) Ở người bệnh có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán.

Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày [32]. Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ.3 Phân loại đái tháo đường Theo ada 2017, phân loai ĐTĐ như sau: ĐTĐ typ 1: do tự hủy tế bào β, thường dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối. Được chẩn đoán ĐTĐ trước 40 tuổi (nhất là trước 30 tuổi).

Người bệnh thường gầy. Khởi phát đột ngột. Đường máu thường cao, có chiều hướng nhiễm toan - ceton. Người bệnh phải được điều trị bằng Insulin mới kiểm soát được đường máu.

ĐTĐ typ 2: do sự mất dần tế bào β sản xuất insulin xảy ra thường xuyên trên nền kháng insulin. Được chẩn đoán ĐTĐ sau 40 tuổi. Người bệnh thường béo. Khởi phát bệnh thường từ từ.

Không có chiều hướng nhiễm toan - ceton. Kiểm soát được đường máu bằng chế độ ăn, luyện tập và/ hoặc các thuốc uống hạ đường máu. 5 ĐTĐ thai kì: chẩn đoán ĐTĐ ở tam cá nguyệt thứ 2 hoặc thứ 3 của thai kì, mà không được chẩn đoán ĐTĐ trước khi mang thai. ĐTĐ do các nguyên nhân khác như các bệnh về tuyến tụy ngoại tiết (như xơ nang), thuốc và hóa chất có thể gây nên ĐTĐ (glucocorticoid, điều tri HIV/AIDS, hoặc sau khi cấy ghép nội tạng) [32].4 Tình hình mắc đái tháo đường trên thế giới và tại Việt Nam 1.1 Tình hình mắc đái tháo đường trên thế giới Trên thế giới, tình trạng về các bệnh mạn tính đang có xu hướng tăng nhanh, trong đó bao gồm cả bệnh ĐTĐ.

Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đã tăng lên nhanh chóng ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Năm 2012, ĐTĐ là nguyên nhân trực tiếp gây ra 1,5 triệu trường hợp tử vong. Bên cạnh đó, lượng đường trong máu cao cũng là nguyên nhân gây ra thêm 2,2 triệu người chết. Gần một nửa số ca tử vong do lượng đường trong máu cao xảy ra trước 70 tuổi [60].

Theo WHO, bệnh ĐTĐ sẽ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong thứ 7 vào năm 2030. Tỷ lệ mắc ĐTĐ toàn cầu ở người lớn trên 18 tuổi đã tăng tử 4,7% năm 1980 lên 8,5% năm 2014 [60]. Số người mắc bệnh ĐTĐ đã tăng từ 108 triệu lên 422 triệu trong khoảng từ năm 1980 đến năm 2014 [60]. Theo báo cáo của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF), vào năm 2015 trên thế giới có khoảng 415 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, trong đó có 5 triệu trường hợp tử vong do ĐTĐ.

Ước tính số trường hợp mắc sẽ lên 642 triệu người vào năm 2040 [45].2 Tình hình mắc đái tháo đường tại Việt Nam Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ của Việt Nam đang tăng rất nhanh trong khoảng vài thập kỉ gần đây. Khoảng 20 năm trước, số người mắc ĐTĐ chỉ chiếm 1-2% dân số ở các thành phố lớn như Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên con số này tăng lên 4-5% dân số Việt Nam vào năm 2002 [59]. Năm 2008, thành phố Hồ Chí Minh có gần 7% người trưởng thành ở độ tuổi 30-69 mắc bệnh ĐTĐ.

Theo ước tính gánh nặng bệnh tất toàn cầu của WHO, năm 2008 Việt Nam có khoảng 17.000 người chết vì các biến chứng của bệnh ĐTĐ. Cũng theo WHO, năm 2012, có ít nhất khoảng 2 triệu người mắc ĐTĐ mặc dù 60% trong Thang Long University Library 6 số đó vẫn chưa được chẩn đoán và không biết bản thân đang mắc bệnh, khi được phát hiện thì đã có nhiều biến chứng nguy hiểm như biến chứng tim mạch, thần kinh, suy thận, mù lòa và các biến chứng bàn chân ĐTĐ [59], [5]. Số liệu thống kê năm 2014 trên 2.402 người dân từ 30-69 tuổi sống tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ hiện mắc bệnh ĐTĐ là 7,9% và có đến 61,8% người bệnh mắc ĐTĐ không được phát hiện [9]. Theo báo cáo tại Hội nghị khoa học về Nội tiết – Chuyển hóa toàn quốc, số lượng người bệnh ĐTĐ không chỉ tập trung ở hai thành phố lớn mà phân bố đều trong cả nước.

Cụ thể tại miền núi phía bắc là 4,82%; đồng bằng sông Hồng 5,81%; duyên hải miền Trung 6,37%; Tây Nguyên 3,82%; Đông Nam Bộ 5,95% và Tây Nam Bộ là 7,18% [20].5 Biến chứng chung của bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là bệnh nguy hiểm, gây ra nhiều biến chứng từ nhẹ đến nặng, có thể đe dọa đến tính mạng người bệnh. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khi mắc ĐTĐ sau một thời gian sẽ có thể làm ảnh hưởng đến tim, mạch máu, mắt, thận, dây thần kinh. Vì vậy, ĐTĐ là một trong những nguyên nhân chính gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ, mù loà, suy thận và cắt cụt chi [44], [35], [60]. Cùng với việc giảm lưu lượng máu, bệnh thần kinh do tổn thương thần kinh ngoại biên ở bàn chân làm tăng nguy cơ loét chân, nhiễm trùng và cuối cùng cần cắt bỏ chi dưới [60].

Bệnh lý võng mạc ĐTĐ là một nguyên nhân quan trọng gây mù lòa, xuất hiện do sự thay đổi lâu dài của các mạch máu nhỏ trong võng mạc. Có 2,6% bệnh mù toàn cầu có nguyên nhân là từ bệnh lý mạn tính ĐTĐ [44]. Theo báo cáo dữ liệu hàng năm của hệ thống dữ liệu về thận của Hoa Kỳ năm 2014, ĐTĐ là một trong những nguyên nhân hàng đầu của suy thận tại Hoa Kỳ [35, 57].6 Các khái niệm liên quan đến biến chứng bàn chân đái tháo đường Theo nhóm công tác quốc tế về bàn chân ĐTĐ (IWGDF), các khái niệm có liên quan bao gồm: - Bàn chân ĐTĐ: bao gồm nhiễm trùng, loét, hoặc hủy hoại cấu trúc mô 7 bàn chân liên quan đến bệnh thần kinh và hoặc bệnh động mạch ngoại biên chi dưới ở những người bệnh ĐTĐ. - Chấn thương bàn chân: bất kỳ bất thường nào liên quan đến tổn thương da, móng hoặc những mô sâu của bàn chân.

- Loét chân: tổn thương toàn bộ phận da dày của bàn chân - Một vết loét lành: da lành, nhưng biểu hiện sự tái tạo biểu mô của một vết loét trước đó - Bệnh thần kinh ĐTĐ: sự hiện diện của các triệu chứng hoặc dấu hiệu rối loạn chức năng thần kinh ngoại vi ở người bệnh ĐTĐ sau khi loại trừ các nguyên nhân khác - Mất cảm giác bảo vệ - Thần kinh – thiếu máu cục bộ: sự kết hợp của bệnh thần kinh ĐTĐ và bệnh động mạch ngoại biên.1 Định nghĩa loét bàn chân Loét bàn chân (LBC) là hậu quả của bệnh lý thần kinh ngoại biên (do giảm cảm giác, rối loạn thần kinh tự động) và thiếu máu (do xơ vữa mạch của các mạch máu ở chân). Ở người bệnh ĐTĐ, tổn thương mạch máu thường bị hai bên, tổn thương nhiều đoạn và ở xa, liên quan đến các động mạch phía dưới gối [21]. Nhiễm trùng ít khi là một yếu tố đơn độc mà thường gây biến chứng ở người có bệnh lý thần kinh và thiếu máu. Nhiễm trùng gây ra những hoại tử mở rộng, tạo nên vết loét bàn chân.

LBC do ĐTĐ có thể chia làm 2 nhóm chính trên lâm sàng. - LBC do bệnh lý thần kinh: trong đó bệnh lý thần kinh chiếm ưu thế, tuần hoàn của bàn chân còn tốt. - LBC do thần kinh- thiếu máu: phối hợp cả bệnh lý thần kinh và thiếu máu, thường mất mạch của bàn chân. Tổn thương do thiếu máu đơn thuần không phối hợp với bệnh lý thần kinh hiếm thấy ở người bệnh ĐTĐ [58].

Thang Long University Library 8 1.2 Phân loại loét bàn chân Năm 1970, các tác giả Wagner và Megitte ở bệnh viện Rancho Los Amigos, California đã lập ra bảng phân loại tổn thương loét bàn chân gồm 6 phân độ: độ 0, 1, 2, 3: chủ yếu đánh giá mức độ sâu của tổn thương, độ 4 và độ 5 đánh giá mức độ lan tỏa của tổn thương và có liên quan đến tổn thương mạch máu nhiều hơn [48]: - Độ 0: Không loét, nhưng có các yếu tố nguy cơ gây loét như biến dạng chân hoặc chai chân. 11 - Độ 1: loét nông, không thâm nhập các mô ở sâu. - Độ 2: loét qua tổ chức dưới da, đụng xương, khớp, dây chằng. - Độ 3: viêm gân, viêm xương, áp xe hoặc viêm mô tế bào sâu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực hành tự chăm sóc phòng ngừa loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Sa Thầy, Kon Tum là tài liệu quan trọng tập trung vào việc hướng dẫn bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cách tự chăm sóc bàn chân để ngăn ngừa loét, một biến chứng phổ biến và nghiêm trọng. Tài liệu cung cấp các phương pháp thực hành cụ thể, từ việc kiểm tra bàn chân hàng ngày, vệ sinh đúng cách, đến lựa chọn giày dép phù hợp. Những thông tin này không chỉ giúp bệnh nhân nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn giảm thiểu nguy cơ biến chứng, từ đó tiết kiệm chi phí điều trị.

Để mở rộng kiến thức về chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh lý, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thực trạng thực hành chăm sóc vết thương sau mổ của điều dưỡng khoa ngoại tổng hợp bệnh viện đa khoa tỉnh phú thọ năm 2020, Tuân thủ qui trình đặt và chăm sóc kim luồn tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa lâm sàng của bệnh viện đa khoa trung tâm an giang năm 2021, và Luận văn thạc sĩ chiến lược phát triển sản phẩm bảo hiểm chăm sóc sức khỏe pvi care tại công ty bảo hiểm pvi vũng tàu giai đoạn 2024 2029. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các khía cạnh khác trong chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh lý.