Chương 1 TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là một bệnh mạn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin, một hóc-môn điều hòa lượng đường trong máu, hoặc khi cơ thể không thể sử dụng insulin hiệu quả mà nó sinh ra [31]. Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (American Diabetes Association - ADA) – 2011 [27], [29]:một người bệnh được coi là ĐTĐ nếu có một trong các đặc điểm sau: - HbA1c ≥ 6.5%: Glucosylated hemoglobin là tên gọi đại diện cho một số các hemoglobin khác nhau xuất hiện trong huyết thanh. Kết quả của việc gắn glucose hoặc sự chuyển hóa glucose vào hemoglobulin (HbA0), vì vậy có nhiều loại hemoglobulin HbA1a, HbA1b, HbA1c và có tên gọi chung là HbA1 .2 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ – ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây: a) Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Người bệnh phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc: b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L).
Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện Thang Long University Library 4 theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Người bệnh nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó người bệnh ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày. Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) Ở người bệnh có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán.
Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày [32]. Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ.3 Phân loại đái tháo đường Theo ada 2017, phân loai ĐTĐ như sau: ĐTĐ typ 1: do tự hủy tế bào β, thường dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối. Được chẩn đoán ĐTĐ trước 40 tuổi (nhất là trước 30 tuổi).
Người bệnh thường gầy. Khởi phát đột ngột. Đường máu thường cao, có chiều hướng nhiễm toan - ceton. Người bệnh phải được điều trị bằng Insulin mới kiểm soát được đường máu.
ĐTĐ typ 2: do sự mất dần tế bào β sản xuất insulin xảy ra thường xuyên trên nền kháng insulin. Được chẩn đoán ĐTĐ sau 40 tuổi. Người bệnh thường béo. Khởi phát bệnh thường từ từ.
Không có chiều hướng nhiễm toan - ceton. Kiểm soát được đường máu bằng chế độ ăn, luyện tập và/ hoặc các thuốc uống hạ đường máu. 5 ĐTĐ thai kì: chẩn đoán ĐTĐ ở tam cá nguyệt thứ 2 hoặc thứ 3 của thai kì, mà không được chẩn đoán ĐTĐ trước khi mang thai. ĐTĐ do các nguyên nhân khác như các bệnh về tuyến tụy ngoại tiết (như xơ nang), thuốc và hóa chất có thể gây nên ĐTĐ (glucocorticoid, điều tri HIV/AIDS, hoặc sau khi cấy ghép nội tạng) [32].4 Tình hình mắc đái tháo đường trên thế giới và tại Việt Nam 1.1 Tình hình mắc đái tháo đường trên thế giới Trên thế giới, tình trạng về các bệnh mạn tính đang có xu hướng tăng nhanh, trong đó bao gồm cả bệnh ĐTĐ.
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đã tăng lên nhanh chóng ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Năm 2012, ĐTĐ là nguyên nhân trực tiếp gây ra 1,5 triệu trường hợp tử vong. Bên cạnh đó, lượng đường trong máu cao cũng là nguyên nhân gây ra thêm 2,2 triệu người chết. Gần một nửa số ca tử vong do lượng đường trong máu cao xảy ra trước 70 tuổi [60].
Theo WHO, bệnh ĐTĐ sẽ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong thứ 7 vào năm 2030. Tỷ lệ mắc ĐTĐ toàn cầu ở người lớn trên 18 tuổi đã tăng tử 4,7% năm 1980 lên 8,5% năm 2014 [60]. Số người mắc bệnh ĐTĐ đã tăng từ 108 triệu lên 422 triệu trong khoảng từ năm 1980 đến năm 2014 [60]. Theo báo cáo của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF), vào năm 2015 trên thế giới có khoảng 415 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, trong đó có 5 triệu trường hợp tử vong do ĐTĐ.
Ước tính số trường hợp mắc sẽ lên 642 triệu người vào năm 2040 [45].2 Tình hình mắc đái tháo đường tại Việt Nam Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ của Việt Nam đang tăng rất nhanh trong khoảng vài thập kỉ gần đây. Khoảng 20 năm trước, số người mắc ĐTĐ chỉ chiếm 1-2% dân số ở các thành phố lớn như Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên con số này tăng lên 4-5% dân số Việt Nam vào năm 2002 [59]. Năm 2008, thành phố Hồ Chí Minh có gần 7% người trưởng thành ở độ tuổi 30-69 mắc bệnh ĐTĐ.
Theo ước tính gánh nặng bệnh tất toàn cầu của WHO, năm 2008 Việt Nam có khoảng 17.000 người chết vì các biến chứng của bệnh ĐTĐ. Cũng theo WHO, năm 2012, có ít nhất khoảng 2 triệu người mắc ĐTĐ mặc dù 60% trong Thang Long University Library 6 số đó vẫn chưa được chẩn đoán và không biết bản thân đang mắc bệnh, khi được phát hiện thì đã có nhiều biến chứng nguy hiểm như biến chứng tim mạch, thần kinh, suy thận, mù lòa và các biến chứng bàn chân ĐTĐ [59], [5]. Số liệu thống kê năm 2014 trên 2.402 người dân từ 30-69 tuổi sống tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ hiện mắc bệnh ĐTĐ là 7,9% và có đến 61,8% người bệnh mắc ĐTĐ không được phát hiện [9]. Theo báo cáo tại Hội nghị khoa học về Nội tiết – Chuyển hóa toàn quốc, số lượng người bệnh ĐTĐ không chỉ tập trung ở hai thành phố lớn mà phân bố đều trong cả nước.
Cụ thể tại miền núi phía bắc là 4,82%; đồng bằng sông Hồng 5,81%; duyên hải miền Trung 6,37%; Tây Nguyên 3,82%; Đông Nam Bộ 5,95% và Tây Nam Bộ là 7,18% [20].5 Biến chứng chung của bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là bệnh nguy hiểm, gây ra nhiều biến chứng từ nhẹ đến nặng, có thể đe dọa đến tính mạng người bệnh. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khi mắc ĐTĐ sau một thời gian sẽ có thể làm ảnh hưởng đến tim, mạch máu, mắt, thận, dây thần kinh. Vì vậy, ĐTĐ là một trong những nguyên nhân chính gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ, mù loà, suy thận và cắt cụt chi [44], [35], [60]. Cùng với việc giảm lưu lượng máu, bệnh thần kinh do tổn thương thần kinh ngoại biên ở bàn chân làm tăng nguy cơ loét chân, nhiễm trùng và cuối cùng cần cắt bỏ chi dưới [60].
Bệnh lý võng mạc ĐTĐ là một nguyên nhân quan trọng gây mù lòa, xuất hiện do sự thay đổi lâu dài của các mạch máu nhỏ trong võng mạc. Có 2,6% bệnh mù toàn cầu có nguyên nhân là từ bệnh lý mạn tính ĐTĐ [44]. Theo báo cáo dữ liệu hàng năm của hệ thống dữ liệu về thận của Hoa Kỳ năm 2014, ĐTĐ là một trong những nguyên nhân hàng đầu của suy thận tại Hoa Kỳ [35, 57].6 Các khái niệm liên quan đến biến chứng bàn chân đái tháo đường Theo nhóm công tác quốc tế về bàn chân ĐTĐ (IWGDF), các khái niệm có liên quan bao gồm: - Bàn chân ĐTĐ: bao gồm nhiễm trùng, loét, hoặc hủy hoại cấu trúc mô 7 bàn chân liên quan đến bệnh thần kinh và hoặc bệnh động mạch ngoại biên chi dưới ở những người bệnh ĐTĐ. - Chấn thương bàn chân: bất kỳ bất thường nào liên quan đến tổn thương da, móng hoặc những mô sâu của bàn chân.
- Loét chân: tổn thương toàn bộ phận da dày của bàn chân - Một vết loét lành: da lành, nhưng biểu hiện sự tái tạo biểu mô của một vết loét trước đó - Bệnh thần kinh ĐTĐ: sự hiện diện của các triệu chứng hoặc dấu hiệu rối loạn chức năng thần kinh ngoại vi ở người bệnh ĐTĐ sau khi loại trừ các nguyên nhân khác - Mất cảm giác bảo vệ - Thần kinh – thiếu máu cục bộ: sự kết hợp của bệnh thần kinh ĐTĐ và bệnh động mạch ngoại biên.1 Định nghĩa loét bàn chân Loét bàn chân (LBC) là hậu quả của bệnh lý thần kinh ngoại biên (do giảm cảm giác, rối loạn thần kinh tự động) và thiếu máu (do xơ vữa mạch của các mạch máu ở chân). Ở người bệnh ĐTĐ, tổn thương mạch máu thường bị hai bên, tổn thương nhiều đoạn và ở xa, liên quan đến các động mạch phía dưới gối [21]. Nhiễm trùng ít khi là một yếu tố đơn độc mà thường gây biến chứng ở người có bệnh lý thần kinh và thiếu máu. Nhiễm trùng gây ra những hoại tử mở rộng, tạo nên vết loét bàn chân.
LBC do ĐTĐ có thể chia làm 2 nhóm chính trên lâm sàng. - LBC do bệnh lý thần kinh: trong đó bệnh lý thần kinh chiếm ưu thế, tuần hoàn của bàn chân còn tốt. - LBC do thần kinh- thiếu máu: phối hợp cả bệnh lý thần kinh và thiếu máu, thường mất mạch của bàn chân. Tổn thương do thiếu máu đơn thuần không phối hợp với bệnh lý thần kinh hiếm thấy ở người bệnh ĐTĐ [58].
Thang Long University Library 8 1.2 Phân loại loét bàn chân Năm 1970, các tác giả Wagner và Megitte ở bệnh viện Rancho Los Amigos, California đã lập ra bảng phân loại tổn thương loét bàn chân gồm 6 phân độ: độ 0, 1, 2, 3: chủ yếu đánh giá mức độ sâu của tổn thương, độ 4 và độ 5 đánh giá mức độ lan tỏa của tổn thương và có liên quan đến tổn thương mạch máu nhiều hơn [48]: - Độ 0: Không loét, nhưng có các yếu tố nguy cơ gây loét như biến dạng chân hoặc chai chân. 11 - Độ 1: loét nông, không thâm nhập các mô ở sâu. - Độ 2: loét qua tổ chức dưới da, đụng xương, khớp, dây chằng. - Độ 3: viêm gân, viêm xương, áp xe hoặc viêm mô tế bào sâu.