Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Viêm mũi xoang (VMX) là tình trạng phản ứng viêm của niêm mạc hốc mũi và các xoang cạnh mũi, có thể kèm theo hoặc không kèm theo tổn thương cấu trúc xương. Trong thực hành lâm sàng hiện đại, thuật ngữ "viêm mũi xoang" đã thay thế hoàn toàn cho thuật ngữ "viêm xoang" đơn thuần, do niêm mạc mũi và niêm mạc lót các xoang đều có chung cấu trúc biểu mô đường hô hấp, đồng thời liên quan mật thiết về phương diện giải phẫu, sinh lý học và cơ chế bệnh sinh. Dựa trên phân loại của Hội Mũi Xoang Châu Âu (EPOS 2012), viêm mũi xoang mạn tính (VMXMT) được xác định khi các triệu chứng viêm kéo dài trên 12 tuần liên tục, chia thành hai thể lâm sàng chính: thể có polyp mũi và thể không có polyp mũi.

Về dịch tễ học, VMXMT là một trong những bệnh lý viêm mạn tính phổ biến hàng đầu với tỷ lệ mắc ghi nhận khoảng 14% tại châu Mỹ và 10,9% tại châu Âu. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ước tính chiếm từ 2% đến 5% dân số, trong đó có tới 86,8% bệnh nhân nằm trong độ tuổi lao động từ 16 đến 50 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng dưới tác động của các yếu tố thuận lợi như khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, ô nhiễm môi trường không khí tại các đô thị, khói bụi công nghiệp và khói thuốc lá. Bệnh không chỉ gây suy giảm chất lượng cuộc sống qua các triệu chứng mạn tính (ngạt tắc mũi, chảy dịch mủ, đau nhức sọ mặt, rối loạn khứu giác, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ) mà còn tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến các biến chứng nặng như viêm tai giữa ứ dịch, viêm đường hô hấp dưới, biến chứng ổ mắt và nội sọ. Đáng chú ý, thói quen tự điều trị, lạm dụng thuốc xịt mũi co mạch và sử dụng kháng sinh tùy tiện, không đủ liều làm gia tăng tình trạng kháng thuốc và gây khó khăn cho công tác điều trị chuyên khoa.

Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương là đơn vị y tế tuyến cuối chuyên ngành Tai Mũi Họng tại Việt Nam, tiếp nhận số lượng lớn bệnh nhân VMXMT người lớn đến khám và điều trị nội trú. Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của viêm mũi xoang mạn tính ở người lớn tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.
  2. Mô tả hình ảnh nội soi và phim chụp cắt lớp vi tính (CLVT) của viêm mũi xoang mạn tính ở người lớn tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 58 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán xác định viêm mũi xoang mạn tính theo hướng dẫn EPOS 2012 và điều trị nội trú tại Khoa Mũi Xoang - Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.
  • Phạm vi không gian: Khoa Mũi Xoang, Phòng Nội soi Tai Mũi Họng và Khoa Chẩn đoán hình ảnh thuộc Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu và theo dõi bệnh nhân từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 02 năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và tiêu chuẩn chẩn đoán

Khóa luận xây dựng trên nền tảng giải phẫu học mũi xoang ứng dụng, cơ chế thanh thải nhầy lông chuyển và mô hình bệnh sinh viêm mạn tính niêm mạc hô hấp. Các tiêu chuẩn và hệ thống thang điểm chuyên khoa được áp dụng gồm:

  • Tiêu chuẩn chẩn đoán EPOS 2012 (European Position Paper on Rhinosinusitis and Nasal Polyps 2012): Xác định VMXMT khi triệu chứng kéo dài > 12 tuần, có ít nhất 2 triệu chứng cơ năng (bắt buộc có chảy mũi hoặc ngạt tắc mũi, kèm đau nhức sọ mặt hoặc giảm/mất ngửi), kết hợp bằng chứng khách quan trên nội soi mũi xoang và/hoặc hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (bít tắc phức hợp lỗ ngách, mờ niêm mạc xoang).
  • Phân loại polyp mũi theo Harley (4 mức độ): Độ 1 (polyp khu trú trong phức hợp lỗ ngách - PHLN); Độ 2 (polyp phát triển ra ngách giữa nhưng chưa vượt qua bờ tự do cuốn giữa); Độ 3 (polyp phát triển ra ngách giữa đến lưng cuốn giữa); Độ 4 (polyp che kín toàn bộ hốc mũi ra đến cửa mũi sau).
  • Hệ thống chấm điểm và phân độ cắt lớp vi tính theo Lund-Mackay: Đánh giá tổn thương từng nhóm xoang (hàm, sàng trước, sàng sau, trán, bướm) theo thang điểm 0 (bình thường), 1 (mờ bán phần), 2 (mờ toàn phần) và phức hợp lỗ ngách theo thang điểm 0 (không tắc nghẽn), 2 (bít tắc). Tổng điểm từ 0 đến 24, phân loại thành 4 mức độ: Độ I (0-4 điểm), Độ II (5-9 điểm), Độ III (10-14 điểm), Độ IV (15-24 điểm).
  • Đánh giá mức độ ngạt mũi bằng gương Glatzel: Xác định diện tích vết đọng sương trên mặt gương chia theo 4 vòng cung tương ứng với các mức độ: không ngạt (vòng 3), ngạt nhẹ (vòng 2), ngạt vừa (vòng 1), ngạt nặng (trong vòng 1).
  • Thăm khám điểm đau xoang thực thể: Khám điểm hố nanh (mặt trước xoang hàm), điểm Ewing (bờ trên trong cung mày - xoang trán), điểm Grunwald (góc trên trong hốc mắt - xoang sàng trước).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả chùm ca bệnh (mô tả từng trường hợp).
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện, thu thập toàn bộ 58 bệnh nhân người lớn nhập viện điều trị nội trú tại Khoa Mũi Xoang thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có rối loạn nhận thức không thể phối hợp hỏi bệnh; bệnh nhân có tiền sử chấn thương, can thiệp phẫu thuật biến dạng giải phẫu hoặc dị tật hẹp cửa mũi bẩm sinh/mắc phải làm sai lệch đánh giá; bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu.
  • Phương tiện và kỹ thuật thu thập:
    • Bệnh án nghiên cứu chuẩn hóa theo mẫu in sẵn.
    • Bộ nội soi mũi xoang chuyên dụng của hãng Karl Storz với nguồn sáng lạnh Halogen 150W, dây dẫn sáng sợi thủy tinh quang học, ống nội soi đường kính 2,7mm x 18cm với các góc nhìn 0°, 30°, 70° (Germany Richards), kết nối hệ thống camera Endovision và màn hình hiển thị.
    • Máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy (từ 2 đến 64 lát cắt) chụp theo 2 hướng cắt coronal (đứng ngang) và axial (ngang).
  • Xử lý số liệu: Nhập liệu bằng phần mềm EpiData phiên bản 3.1, làm sạch và phân tích thống kê y học bằng phần mềm Stata phiên bản 15.0.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương tổng quan hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu VMXMT trên thế giới từ thời Hippocrates, công trình giải phẫu bệnh của Potter (1981), mô hình bệnh sinh của Kaliner (2007) đến các nghiên cứu liên quan bệnh lý hen phế quản (Annesi-Maesano, 1999) và trào ngược dạ dày - thực quản (Del Gaudio, 2005; Dinis & Subtil, 2006). Tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các nghiên cứu nền tảng của GS. Trần Hữu Tước (1974), GS. Võ Tấn (1974), GS. Lương Sỹ Cần (1991), PGS. Nguyễn Hoàng Sơn (1992), cùng các nghiên cứu chuyên sâu về lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh của Võ Văn Khoa (2000), Võ Thanh Quang (2004), Phạm Thanh Sơn (2006), Nguyễn Đăng Huy - Lâm Huyền Trân (2012) và Đàm Thị Lan (2013).

Chương 1 trình bày chi tiết giải phẫu hốc mũi (4 thành: trên, dưới, trong, ngoài với 3 ngách mũi) và hệ thống 5 đôi xoang cạnh mũi (xoang hàm thể tích trung bình 12 cm³, xoang trán, xoang sàng trước, xoang sàng sau, xoang bướm). Tác giả phân tích cấu trúc vi thể của biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển (chiếm 80% tế bào biểu mô) cùng lớp màng nhầy sinh lý (pha gel bắt giữ dị vật ở trên, pha sol lỏng nuôi dưỡng chuyển động lông chuyển ở dưới, thành phần 95% nước, 3% chất hữu cơ giàu glycoprotein mucin và 2% muối khoáng). Cơ chế bệnh sinh VMXMT được khái quát qua vòng xoắn bệnh lý 3 giai đoạn:

  1. Tắc nghẽn thông khí phức hợp lỗ ngách làm giảm áp lực oxy nội xoang;
  2. Phù nề niêm mạc, suy giảm vận chuyển nhầy lông chuyển dẫn đến ứ đọng chất tiết;
  3. Bội nhiễm vi khuẩn (đặc biệt vi khuẩn kỵ khí), hình thành ổ viêm mạn tính và biến đổi cấu trúc niêm mạc (thoái hóa polyp, phì đại cuốn mũi).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể quy trình tuyển chọn mẫu, tiêu chuẩn chẩn đoán EPOS 2012, phương pháp đánh giá ngạt mũi qua gương Glatzel, quy chuẩn chấm điểm phim CLVT theo hệ thống Lund-Mackay, quy trình nội soi mũi xoang bằng optic Karl Storz và các bước bảo đảm đạo đức nghiên cứu y sinh học (được chấp thuận của Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương và có sự đồng thuận tham gia của người bệnh).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày toàn bộ số liệu thu thập từ 58 bệnh nhân qua hệ thống 17 bảng số liệu và 8 biểu đồ:

  • Đặc điểm chung và tiền sử:
    • Giới tính: 31 nam (53,4%), 27 nữ (46,6%), tỷ lệ nam:nữ là 1,1:1 ($p > 0,05$).
    • Tuổi trung bình: $47,17 \pm 15,32$ tuổi (nhỏ nhất 18, lớn nhất 73 tuổi); nhóm tuổi 45-60 chiếm tỷ lệ cao nhất (31,0%), tiếp đến là nhóm trên 60 tuổi (27,6%), nhóm 31-45 tuổi (24,1%) và nhóm 18-30 tuổi (17,2%).
    • Thời gian mắc bệnh: Trung bình $5,1 \pm 3,2$ năm; nhóm bệnh kéo dài > 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,3% (28/58 BN), nhóm 1-3 năm chiếm 29,3%, nhóm 3-5 năm chiếm 19,0%, nhóm dưới 12 tháng chỉ có 3,4% (2/58 BN).
    • Tiền sử bệnh lý: 100% từng có triệu chứng mũi xoang trước đây; 58,6% (34/58 BN) từng phải nhập viện điều trị; 35,5% tự mua thuốc điều trị. Tiền sử hút thuốc lá chiếm 32,8% (chủ yếu ở nam giới); viêm mũi dị ứng chiếm 20,7%; hen phế quản chiếm 15,5%; trào ngược dạ dày - thực quản chiếm 10,3%; dị ứng thức ăn chiếm 6,9%; mắc các bệnh lý toàn thân mạn tính đi kèm chiếm 36,8%.
    • Lý do vào viện: Ngạt tắc mũi chiếm 87,9% (51/58 BN), chảy mũi chiếm 72,4% (42/58 BN), đau nhức sọ mặt chiếm 15,5%, rối loạn khứu giác chiếm 10,3%, ho/hắt hơi chiếm 3,4%.
Đặc điểm lâm sàng và nội soi (n=58) Số bệnh nhân (BN) Tỷ lệ (%)
Triệu chứng cơ năng
- Ngạt tắc mũi 58 100,0
- Chảy mũi 58 100,0
- Giảm hoặc mất ngửi 47 81,0
- Ho, hắt hơi 41 70,7
- Đau nhức sọ mặt 40 69,0
Đặc điểm chảy mũi và ngạt mũi
- Chảy cả mũi trước và mũi sau 35 60,3
- Chảy dịch nhầy không màu / dịch nhầy 31 / 40 53,5 / 69,0
- Chảy dịch vàng xanh / mủ đặc 21 / 18 36,2 / 31,0
- Chảy mũi liên tục 39 67,2
- Ngạt mũi hai bên / liên tục 40 / 36 69,0 / 62,0
- Ngạt mũi mức độ trung bình / nặng 27 / 25 46,6 / 43,1
Đặc điểm đau nhức sọ mặt (n=40)
- Vị trí đau trước mặt / đau vùng trán 30 / 23 75,0 / 57,5
- Đau góc mũi mắt / đỉnh chẩm 16 / 11 40,0 / 27,5
- Đau mức độ nhẹ / trung bình / nặng 17 / 15 / 8 42,5 / 37,5 / 20,0
- Đau từng lúc / liên tục 28 / 12 70,0 / 30,0
Triệu chứng thực thể và toàn thân
- Mệt mỏi kéo dài / sốt nhẹ (< 38,5°C) 40 / 16 69,0 / 27,6
- Sưng nề vùng má 2 bên / nửa mặt 12 / 2 21,0 / 3,0
- Ấn đau điểm hố nanh (xoang hàm) 41 70,7
- Ấn đau điểm Ewing (xoang trán) 30 51,7
- Ấn đau điểm Grunwald (xoang sàng trước) 22 37,9
Hình ảnh nội soi Tai Mũi Họng
- Niêm mạc hốc mũi phù nề 56 96,6
- Dịch đọng ở sàn mũi 53 91,3
- Niêm mạc khe giữa phù nề / đọng dịch mủ 55 / 54 94,8 / 93,1
- Khe giữa đọng mủ đặc vàng 29 50,0
- Cuốn mũi giữa quá phát / thoái hóa 45 / 10 77,6 / 17,2
- Cuốn mũi dưới quá phát / thoái hóa 14 / 6 21,1 / 10,3
- Polyp mũi quan sát thấy trên nội soi 23 39,7
- Dị hình vách ngăn mũi 9 15,5
- Bệnh lý lân cận: Viêm họng mạn tính 37 63,8
- Bệnh lý lân cận: Bệnh lý răng miệng 11 19,0
- Bệnh lý lân cận: Viêm amidan tái diễn / Viêm thanh quản 10 / 10 17,2 / 17,2
  • Đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CLVT):
Nhóm tổn thương trên phim CLVT (n=58) Mờ bán phần Mờ toàn phần Tổng số BN tổn thương (%)
Xoang hàm 24 (41,4%) 34 (58,6%) 58 (100,0%)
Xoang sàng trước 45 (77,6%) 3 (5,2%) 48 (82,8%)
Xoang trán 28 (48,3%) 11 (19,0%) 39 (67,2%)
Xoang bướm 21 (36,2%) 3 (5,2%) 24 (41,4%)
Xoang sàng sau 18 (31,0%) 3 (5,2%) 21 (36,2%)
Tổn thương giải phẫu khác trên CLVT
- Bít tắc phức hợp lỗ ngách (PHLN) - - 48 (82,8%)
- Polyp mũi trên phim CLVT - - 33 (56,9%)
- Vẹo vách ngăn mũi trên CLVT - - 25 (43,1%)
Phân độ theo thang điểm Lund-Mackay
- Độ I (0 - 4 điểm) - - 2 (3,5%)
- Độ II (5 - 9 điểm) - - 13 (22,4%)
- Độ III (10 - 14 điểm) - - 29 (50,0%)
- Độ IV (15 - 24 điểm) - - 14 (24,1%)

Chương 4: Bàn luận

Tác giả so sánh, phân tích các chỉ số nghiên cứu với các y văn trong nước và quốc tế:

  • Đặc điểm chung: Tỷ lệ giới tính nam/nữ (1,1:1) tương đương với các nghiên cứu của Trịnh Thị Hồng Loan, Đàm Thị Lan, Ling và Kountakis ($p > 0,05$). Độ tuổi trung bình ($47,17 \pm 15,32$) cao hơn nghiên cứu của Đàm Thị Lan (35,5 tuổi), giải thích do cỡ mẫu bệnh nhân nội trú tuyến trung ương thường tiếp nhận bệnh nhân có diễn biến bệnh mạn tính kéo dài và lớn tuổi hơn. Thời gian mắc bệnh trung bình 5,1 năm cho thấy đa số bệnh nhân đến viện ở giai đoạn muộn sau nhiều năm tự điều trị thất bại.
  • Đối chiếu lâm sàng: Triệu chứng ngạt tắc mũi và chảy mũi xuất hiện ở 100% bệnh nhân, khẳng định vai trò là hai triệu chứng chỉ điểm hàng đầu theo EPOS 2012, phù hợp với kết quả của Ngô Văn Công (100%), Võ Văn Khoa (94,7%) và Kennedy & Suh (81-95%).
  • Đối chiếu hình ảnh nội soi và CLVT:
    • Nội soi phát hiện polyp mũi ở 39,7% bệnh nhân, trong khi phim CLVT phát hiện hình ảnh polyp ở 56,9% bệnh nhân. Sự chênh lệch này do chụp CLVT có khả năng phát hiện tổn thương polyp sâu trong phức hợp lỗ ngách, ngách sàng bướm mà ống nội soi quang học khó tiếp cận khi niêm mạc hốc mũi bị phù nề nặng.
    • Tỷ lệ bít tắc phức hợp lỗ ngách trên CLVT đạt 82,8%, giải thích tỷ lệ tổn thương xoang hàm (100%), xoang sàng trước (82,8%) và xoang trán (67,2%) chiếm ưu thế vượt trội do cùng dẫn lưu qua ngách giữa.
    • Mức độ tổn thương xoang theo Lund-Mackay tập trung chủ yếu ở Độ III (50,0%) và Độ IV (24,1%), phản ánh tình trạng tổn thương đa xoang nặng nề của nhóm bệnh nhân chỉ định điều trị nội trú.

Kết quả chính và đóng góp khoa học

Kết quả chính

  1. Lâm sàng: Ngạt tắc mũi và chảy mũi là hai triệu chứng cơ năng xuất hiện ở 100% bệnh nhân, trong đó ngạt mũi hai bên chiếm 69,0%, chảy cả mũi trước và mũi sau chiếm 60,3%, tính chất dịch chủ yếu là dịch nhầy (69,0%) hoặc mủ đặc (31,0%). Các triệu chứng kèm theo gồm giảm/mất ngửi (81,0%), ho/hắt hơi (70,7%) và đau nhức sọ mặt (69,0%, chủ yếu đau vùng trước mặt 75,0% và đau từng lúc 70,0%). Dấu hiệu thực thể ấn đau xoang gặp nhiều nhất tại điểm hố nanh (70,7%).
  2. Nội soi: Niêm mạc hốc mũi phù nề chiếm 96,6%, dịch đọng sàn mũi chiếm 91,3%, niêm mạc khe giữa nề chiếm 94,8%, đọng mủ khe giữa chiếm 93,1% (mủ đặc vàng chiếm 50,0%), cuốn mũi giữa quá phát chiếm 77,6% và polyp mũi quan sát được chiếm 39,7%. Bệnh lý phối hợp thường gặp nhất là viêm họng mạn tính (63,8%).
  3. Cắt lớp vi tính (CLVT): 100% bệnh nhân có tổn thương xoang hàm (mờ toàn phần chiếm 58,6%), xoang sàng trước tổn thương 82,8%, xoang trán tổn thương 67,2%, xoang bướm tổn thương 41,4% và xoang sàng sau tổn thương 36,2%. Tỷ lệ bít tắc phức hợp lỗ ngách đạt 82,8%. Phân độ theo Lund-Mackay ghi nhận Độ III chiếm tỷ lệ cao nhất (50,0%), tiếp đến là Độ IV (24,1%) và Độ II (22,4%).

Giải pháp và khuyến nghị từ tác giả

  • Cần kết hợp chặt chẽ việc khai thác triệu chứng lâm sàng theo hướng dẫn chuẩn EPOS 2012 với nội soi mũi xoang và chụp cắt lớp vi tính để xác định chính xác giai đoạn bệnh, phân độ tổn thương và các dị hình giải phẫu (vẹo vách ngăn, quá phát cuốn mũi, bít tắc phức hợp lỗ ngách).
  • Khuyến nghị chụp CLVT mũi xoang ở cả hai bình diện đứng ngang (coronal) và ngang (axial) trước khi quyết định can thiệp phẫu thuật nội soi mũi xoang nhằm đánh giá toàn diện các mốc giải phẫu nguy hiểm và mức độ lan rộng của polyp sâu trong các hốc xoang.
  • Cần tăng cường giáo dục truyền thông y tế về bệnh viêm mũi xoang mạn tính, cảnh báo người dân không tự ý sử dụng kháng sinh và thuốc nhỏ mũi kéo dài, khuyến khích thăm khám chuyên khoa sớm để tránh biến chứng và giảm tỷ lệ bệnh nhân nhập viện ở giai đoạn tổn thương đa xoang nặng (Lund-Mackay độ III, IV).

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

  • Cung cấp bộ số liệu cập nhật (giai đoạn 2019 - 2020) về đặc điểm lâm sàng, nội soi và hình ảnh cắt lớp vi tính theo hệ thống phân loại chuẩn quốc tế EPOS 2012 và thang điểm Lund-Mackay tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.
  • Làm rõ sự tương quan và độ nhạy khác biệt giữa nội soi quang học và chụp CLVT trong việc phát hiện polyp mũi (39,7% so với 56,9%) và dị hình vẹo vách ngăn (15,5% so với 43,1%), khẳng định giá trị bổ trợ không thể tách rời của chẩn đoán hình ảnh cắt lớp vi tính trong VMXMT.

Hạn chế và hướng phát triển nghiên cứu

  • Hạn chế:
    • Cỡ mẫu nghiên cứu còn hạn chế ($n = 58$ bệnh nhân) do thời gian nghiên cứu tương đối ngắn (tháng 10/2019 đến tháng 02/2020) và áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
    • Đối tượng nghiên cứu hoàn toàn là bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối, chưa đại diện cho toàn bộ quần thể bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính trong cộng đồng.
    • Đề tài dừng lại ở việc mô tả cắt ngang đặc điểm lâm sàng, nội soi và hình ảnh CLVT trước phẫu thuật, chưa theo dõi dọc kết quả điều trị phẫu thuật nội soi và sự thay đổi niêm mạc sau mổ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu đa trung tâm với thời gian theo dõi dài hơn.
    • Thực hiện các nghiên cứu tiến cứu đánh giá hiệu quả điều trị ngoại khoa (phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng - FESS) kết hợp đối chiếu thang điểm Lund-Mackay trước mổ với chất lượng sống và tỷ lệ tái phát polyp sau phẫu thuật.

Giá trị tham khảo thực tiễn

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên Y đa khoa, học viên bác sĩ nội trú, cao học chuyên ngành Tai Mũi Họng và các bác sĩ lâm sàng thực hành chẩn đoán, điều trị bệnh lý mũi xoang.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Bảng tổng hợp chi tiết triệu chứng cơ năng, thực thể và đối chiếu tổn thương từng nhóm xoang trên phim CLVT theo thang điểm chuẩn Lund-Mackay.
    • Khung phân tích cơ chế giải phẫu bệnh sinh và quy trình đánh giá tổn thương nội soi khe giữa kết hợp chẩn đoán hình ảnh lát cắt vi tính hỗ trợ đắc lực cho việc lập kế hoạch phẫu thuật nội soi mũi xoang.

Câu hỏi thường gặp

1. Triệu chứng cơ năng nào xuất hiện với tỷ lệ tuyệt đối (100%) ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính trong nghiên cứu?

Trong số 58 bệnh nhân nghiên cứu, hai triệu chứng cơ năng ghi nhận ở 100% đối tượng là ngạt tắc mũi và chảy mũi. Trong đó, ngạt mũi hai bên chiếm 69,0%, ngạt liên tục chiếm 62,0%; chảy cả mũi trước và mũi sau chiếm 60,3% và tính chất dịch chảy phổ biến nhất là dịch nhầy (69,0%).

2. Sự khác biệt về tỷ lệ phát hiện polyp mũi giữa nội soi mũi xoang và chụp cắt lớp vi tính là bao nhiêu?

Nội soi mũi xoang phát hiện polyp mũi ở 39,7% bệnh nhân (23/58 BN), trong khi phim chụp cắt lớp vi tính (CLVT) phát hiện polyp ở 56,9% bệnh nhân (33/58 BN). Chụp CLVT có ưu thế phát hiện các polyp nằm sâu trong khe ngách và bên trong lòng các hốc xoang mà đầu optic nội soi không quan sát trực tiếp được.

3. Nhóm xoang nào có tỷ lệ tổn thương cao nhất trên phim chụp CLVT và phân độ Lund-Mackay nào chiếm ưu thế?

Trên phim chụp CLVT, xoang hàm có tỷ lệ tổn thương cao nhất đạt 100% (58/58 BN, trong đó mờ toàn phần chiếm 58,6%), tiếp theo là xoang sàng trước (82,8%) và xoang trán (67,2%). Dựa theo thang điểm Lund-Mackay, mức độ tổn thương chiếm tỷ lệ cao nhất là Độ III (10-14 điểm) với 50,0% (29/58 BN).

4. Tỷ lệ bít tắc phức hợp lỗ ngách (PHLN) trên phim chụp CLVT được ghi nhận là bao nhiêu?

Hình ảnh bít tắc phức hợp lỗ ngách trên phim chụp CLVT được ghi nhận ở 48/58 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 82,8%. Đây là nguyên nhân bệnh sinh then chốt dẫn đến ứ đọng dịch và tổn thương các nhóm xoang trước (xoang hàm, xoang sàng trước, xoang trán).

5. Khóa luận sử dụng phần mềm và công cụ thống kê nào để quản lý và xử lý dữ liệu?

Khóa luận sử dụng phần mềm EpiData phiên bản 3.1 để thiết kế biểu mẫu nhập liệu, kiểm soát tính nhất quán của dữ liệu và sử dụng phần mềm Stata phiên bản 15.0 để thực hiện các phân tích thống kê y học.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Hải Nam đã mô tả toàn diện các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và phim chụp cắt lớp vi tính ở 58 bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính người lớn tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương theo chuẩn EPOS 2012 và thang điểm Lund-Mackay. Kết quả nghiên cứu khẳng định ngạt tắc mũi và chảy mũi là hai triệu chứng chỉ điểm xuất hiện ở toàn bộ bệnh nhân, đồng thời tổn thương xoang hàm (100%), xoang sàng trước (82,8%) và bít tắc phức hợp lỗ ngách (82,8%) là các thương tổn thực thể nổi bật nhất. Công trình nhấn mạnh vai trò thiết yếu của việc kết hợp nội soi mũi xoang với chụp cắt lớp vi tính đa bình diện nhằm đánh giá chính xác mức độ lan rộng của tổn thương, hỗ trợ đắc lực cho chẩn đoán chuyên sâu và định hướng can thiệp ngoại khoa chức năng.