MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Chương trình thực tập nghề tại Nhật Bản là một chương trình có sự hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên với Trung tâm Đào Tạo và Phát Triển Quốc Tế về nhiều lĩnh vực giáo dục đào tạo, chuyển giao khoa học công nghệ. Trong đó lĩnh vực về hợp tác phát triển nông nghiệp đang được chú trọng quan tâm vì đặc thù của Việt Nam vẫn đang là một nước nông nghiệp dựa vào nông nghiệp là chính. Nằm ở khu vực Đông Á với diện tích 377.972,75 km2, Nhật Bản có một ngành nông nghiệp phát triển ở trình độ cao.
Bất chấp điều kiện khí hậu vô cùng khắc nghiệt và là một trong những quốc gia xảy ra nhiều thiên tai nhất thế giới. Mặc dù lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 3% dân số Nhật Bản làm nông nghiệp nhưng cung cấp đầy đủ thức ăn chất lượng cao cho hơn 127 triệu dân [11]. Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập quốc tế, với nền kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển cùng với đời sống người dân không ngừng được nâng cao. Trong bối cảnh đó, việc không ngừng sáng tạo và áp dụng công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất là hướng đi tất yếu để xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, thu hẹp khoảng cách với các nước tiên tiến trên thế giới, đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đời sống của người dân.
Chính vì vậy việc học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia có nền Nông nghiệp phát triển trong đó có Nhật Bản là quốc gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp là vô cùng cấp thiết. Cải thảo còn được gọi là cải bao, cải cuốn, bắp cải tây là loại thực vật thuộc họ Cải ăn, được sử dụng rộng rãi trong các món ăn ở Đông Nam Á. Loại Luan van 2 thực vật này trồng nhiều ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… nhưng cũng có thể bắt gặp ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Úc [1]. Tại Nhật bản cải thảo là một trong những loại rau chính với diện tích sản xuất lớn có thể đa dạng trong chế biến.
Trong thời gian thực tập tại Nhật Bản em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tình hình sản xuất rau cải thảo tại trang trại TOYOHIRO ENDO, làng Kawakami, tỉnh Nagano, Nhật Bản”. Với mong muốn tìm hiểu về mô hình tổ chức sản xuất, cách thức và các tiến bộ khoa học kỹ thuật mà họ áp dụng trong nông nghiệp để tạo ra những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao đáp ứng các yêu cầu của thị trường khó tính trên thế giới. Từ đó đề xuất ý tưởng khởi nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất. Mục tiêu cụ thể - Điều tra được tình hình sản xuất cách thức sản xuất cải thảo của trang trại Toyohiro Endo.
- Xác định được những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất cải thảo tại trang trại Toyohiro Endo. - Rút ra các bài học kinh nghiệm trong thời gian thực tập tại trang trại Toyohiro Endo. Yêu cầu - Nắm được các quy trình trồng rau, quy tắc phủ bạt nilong, kỹ thuật cải tạo đất, bón phân và quản lý đất sau mùa vụ. - Đánh giá được tác dụng của việc ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào đời sống sản xuất.
- Biết cách nhìn nhận về tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau tại làng Kawakami nói riêng từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu - Cung cấp các thông tin kiến thức về nền nông nghiệp công nghệ cao của Nhật Bản. - Củng cố những kiến thức tốt nhất giúp sinh viên làm quen với công việc trải nghiệm công việc thực tế tại nước ngoài. - Bước đầu hình thành về quy trình sản xuất rau sạch an toàn theo quy trình sản xuất rau sạch an toàn tại Nhật Bản.
- Góp phần thu thập số liệu về thực tế sản xuất, đồng thời sẽ là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan. Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, sự phân bố và phân loại Cải Thảo 2. Nguồn gốc cây Cải Thảo Cải thảo thuộc họ thập tự, chi Brassica, quê hương của nó là vùng Đông Á.
Dạng tiền bối của nó là B. Campestris, xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải với khí hậu ôn hòa và ấm. Cải thảo được nhập vào Bắc Âu như là loại cây cho hạt có dầu. Sau khi nhập vào Trung Quốc khoảng 2000 về trước, nó phân ly thành các loại phụ khác nhau.
Từ thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, loại phụ B. Campetris subsp (cải củ) và B junce (cải lá) đã được ghi nhận ở Trung Quốc. Sau đó Cải Củ chỉ được trồng ở phía bắc Trung Quốc, còn loại cải trắng thì lại được trồng ở phía Nam vào thế kỉ thứ 17 [1]. Sự phân bố của cây Cải Thảo Cải thảo hay Bắp cải Trung Quốc (Brasica rapa subsp.
Pekinensis) có nguồn gốc từ Trung Quốc, là một trong các loại rau được trồng phổ biến nhất ở Châu Á [8;9]. Từ Trung Quốc Cải thảo được nhập vào Nhật Bản khoảng năm 1866, sau năm 1920 Cải thảo mới được phát triển rộng rãi ở Nhật Bản. Ở Triều Tiên Cải thảo được mô tả từ thế kỉ 14, tuy nhiên thì mãi đến thế kỉ 19 mới trở thành cây rau quan trọng nhất tại đất nước Triều Tiên. Ở Pháp Cải thảo được gọi là Pepi mô tả đầu tiên vào năm 1840.
Còn ở Mỹ Cải thảo được quan tâm vào năm 1883 và được nhập vào đất nước Anh Quốc năm 1887. Cải thảo được nhập vào các nước Nam Á tương đối muộn, vài năm gần đây mới trở nên phổ biến ở Malaisia, Indonesia và Tây Ấn Độ. Ở các nước này Cải thảo chủ yếu được trồng vào mùa lạnh, khô ở đồng bằng của vùng cận nhiệt Luan van 5 đới, còn ở vùng nứi cao nhiệt đới thì trồng quanh năm. Ngày nay nhờ có các chương trình lai tạo giống tiên tiến nên Cải Thảo có thể trồng tạo các vùng đồng bằng nhiệt đới.
Hiện này Cải thảo có thể trồng được cả ở Bắc Mỹ, Tây Âu và được trồng như cây ôn đới [1]. Phân loại Cải Thảo Cải thảo (Brassica rapa subsp. Pekinensis) thuộc: Giới (plantae), Bộ (brassicales), họ (Brassicaceae), Chi (Brassica), Loài (Brassica rapa). Dựa theo hình dạng, kích thước và các tổ chức của bắp đã phân Cải thảo thành 3 nhóm chính sau [7] : Brassica campestris var, cephalata: Đây là nhóm có bắp chặt với hình dạng khác nhau, chồi bắp phát triển mạnh, đỉnh bắp có thể phẳng, tròn hoặc lồi, bắp có hình trứng ngược, hình trái xoan.
Brassica campestris var, cylindrical: Đây là nhóm có bắp chặt hình dài thẳng đứng, có thể có hoặc không có các lá cuộn dài trên đỉnh. Bắp hơi nhọn phía trên đỉnh. Brassica campestris var, laxa: Đây là nhóm có bắp mở, không chặt, có màu vàng hoặc trắng vàng. Trên đỉnh và viền trên bắp có thể thẳng hoặc hơi cong ra ngoài.
Ngoài ra còn có sự khác nhau về thời gian sinh trưởng, trọng lượng bắp, độ chặt bắp, số lượng lá và màu sắc lá. Các giống khác nhau có thời gian sinh trưởng cũng khác nhau và dao động từ 55 – 110 ngày tính từ khi gieo đến lúc thu hoạch sản phẩm. Số lượng lá của các giống cũng khác nhau chúng dao động từ 20 đến 150 lá/cây. Thậm chí ngay cả hệ rễ cũng có trọng lượng khác nhau, từ vài gram cho đến 10kg ở một số giống [1].
Đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái. Đặc điểm thực vật học của cải thảo Rễ Cải thảo có hệ rễ chùm rất phát triển với sự phân nhánh mạnh. Khi các lá thật phát triển trên mặt đất thì rễ chính tiếp tục ăn sâu xuống đất và từ đó bắt đầu hình thành các rễ ngang. Đầu tiên ở giai đoạn cây con cải thảo có rễ cọc, nhưng do việc cấy chuyền nên rễ này bị đứt sau đó rễ chùm phát triển mạnh.
Thời gian đầu các rễ chùm chỉ phát triển trên lớp đất mặt. Ở vào giai đoạn cây trưởng thành hệ rễ ăn sâu xuống tầng đất phía dưới mặt đất 35 cm và ăn rộng 40 cm. Tuy nhiên khi vào giai đoạn sinh sản hệ rễ còn phát triển mạnh hơn nữa [1]. Thân Trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, thân không phân nhánh, không dài quá 20 cm.
Trong thời gian này thân tiếp tục lớn lên, đường kính ở phần gốc thân rộng từ 4 – 7 cm. Khi cây ở vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực, thân sẽ tiếp tục dài ra có khi đạt tới 60 đến 100 cm, xuất hiện các cành cấp I, II, thường thì các cành phía dưới dài hơn cành phía trên [1]. Lá Dạng lá biến đổi theo từng giai đoạn sinh trưởng: - Lá mầm: Có 2 đốt, hình thận và mộc đối nhau. Lượng dinh dưỡng dự trữ trong lá mầm cung cấp cho cây ở giai đoạn đầu sau khi nảy mầm.
Sau đó lá mầm sẽ yếu dần và chết. - Lá gốc: Có 2 lá thật mọc đối nhau trên thân tại cùng một độ cao, hình thập tự. Các lá gốc thường dài, có cuống dài trung bình từ 8 – 15 cm. Sau vài tuần những lá này sẽ già và chết đi.
- Lá không cuốn: Các lá mọc vòng xung quanh trục chính của thân. Mép lá gợn sóng, nhưng có hình chữ V tại đáy của bản lá. Những lá của vòng trong Luan van 7 cùng thường nhỏ, và lớn lên cùng với sự sinh trưởng của cây. Các lá trưởng thành nhưng chưa cuốn lớn lên rất nhanh và trải rộng ra.
Chúng là những lá rất cần cho các lá phía trong để hình thành bắp. Các lá này là bộ phận thực hiện chức năng quang hợp để cung cấp dinh dưỡng cho các lá bên trong. - Lá bắp: Các lá ngoài cùng của bắp thường có cuống dài, hẹp, hình trứng. Còn các lá bắp bên trong lại có bề ngang phát triển trong khi chiều dài ngắn lại và tỷ lệ rộng dài tương đối.
- Lá thân: Là những lá mọc lên từ thân hoặc cành hoa. Cuống của những lá này rộng và chặt lại, bó chặt lấy cành hoa. Lá có hình trứng ngược, nhỏ hơn rất nhiều so với các lá không cuốn bắp và rất mịn. Hoa Cành hoa đơn giản, dài, không xác định.
Các hoa riêng biệt được giữ trên thân chính của cành hoa. Hoa lưỡng tính gồm 4 dài, 4 cánh, 6 ống phấn trong đó có 2 ngắn, 4 dài, 2 lá noãn. 2 lá noãn này hình thành bầu nhụy với rãnh giả và hai hàng noãn cong.