ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai [1]. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) 2021, ĐTĐ là một trong những bệnh lý phát triển nhanh nhất toàn cầu của thế kỷ 21, cứ 10 người trong độ tuổi từ 20 – 79 tuổi thì có 1 bệnh nhân ĐTĐ, với con số mắc trên toàn thế giới là 537 triệu người, tổng chi phí chi trả y tế là 206 tỷ USD. Bệnh gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, cắt cụt chi, và có thể dẫn đến tử vong, theo ước tính có 2,5 triệu người tử vong do ĐTĐ (IDF 2021) [49]. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6%.
Theo kết quả điều tra STEPwise do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18 – 69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6%. Dữ liệu cập nhật của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) cho thấy năm 2021 Việt Nam có 3,9 triệu người trưởng thành mắc ĐTĐ với tỷ lệ 6% dân số [49]. Sau khi được chẩn đoán ĐTĐ, việc tiếp cận đa khía cạnh nhằm giảm nguy cơ mắc các biến chứng ĐTĐ là điều trọng tâm, bên cạnh kiểm soát đường huyết, bệnh nhân cần được kiểm soát huyết áp, lipid máu…kết hợp với thay đổi lối sống, chế độ ăn, tập luyện phù hợp [15]. Và một trong các liệu pháp hiệu quả để kiểm soát ĐTĐ và làm giảm các biến chứng là thông qua việc sử dụng insulin.
Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào cũng cũng sẵn sàng bắt đầu và duy trì sự tuân thủ nghiêm ngặt việc sử dụng phác đồ điều trị có insulin. Các rào cản cho việc sử dụng insulin bao gồm sợ đau khi tự tiêm tiêm thuốc, cho rằng thuốc có thể có những tác động xấu đến sức khỏe hiện tại (tăng cân và hạ đường huyết quá mức), niềm tin sai lầm về thuốc ảnh hưởng đến sức khỏe (insulin gây ra các biến chứng của ĐTĐ), nghi ngờ về hiệu quả của insulin, thất vọng về bệnh ĐTĐ vẫn tiếp tục tiến triển trong khi sử dụng insulin [35]. Những rào cản này đang tồn tại phổ biến trong suy nghĩ của các BN đái tháo đường nói chung và BN đái tháo đường típ 2 nói riêng khi bắt đầu sử dụng insulin. 2 Mặt khác, khi có các rào cản trong việc sử dụng insulin như vậy sẽ ảnh hưởng xấu đến sự quan tâm của họ đối với việc tìm kiếm các hướng dẫn kỹ thuật bảo quản và xử lý tiêm insulin thích hợp, dẫn đến chất lượng thuốc có thể không được đảm bảo và kỹ thuật tiêm chưa đúng [40].
Mô ̣t nguyên nhân khác đáng báo đô ̣ng là tỷ lê ̣ người mắ c ĐTĐ không đươc̣ chẩ n đoán luôn ở mức cao (45%), chủ yế u là ĐTĐ típ 2. Điề u này cho thấ y nhu cầ u cấ p thiế t phải cải thiê ̣n khả năng chẩ n đoán ở nhữn g người mắ c ĐTĐ, nhiề u người trong số ho ̣ không biế t mình mắ c bê ̣nh. Đồ ng thời ̣ vu ̣ chăm sóc thích hơp̣ và kip̣ thời cho tấ t cả những người mắ c bê ̣nh cung cấ p dich ĐTĐ càng sớm càng tố t [49]. Vì vậy, việc đánh giá kiế n thức, kỹ thuật bảo quản và xử lý tiêm insulin, xác định các rào cản khi sử dụng insulin có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị ĐTĐ, đây là các tiền đề cho việc can thiệp giáo dục, thay đổi nhận thức, niềm tin và thái độ của bệnh nhân với việc sủ dụng insulin.
Do đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành đề tài: “Đánh giá kiến thức điều trị bằng insulin, các rào cản trong sử dụng insulin của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện hoàn mỹ Vạn Phúc 2” với các mục tiêu: 1. Đánh giá kiến thức, kỹ thuật bảo quản và xử lý tiêm insulin. Khảo sát các yếu tố có liên quan đến kiến thức, kỹ thuật bảo quản và xử lý tiêm insulin. Xác định rào cản insulin trên bệnh nhân sử dụng thuốc và insulin, trên bệnh nhân tiếp tục dùng thuốc uống và bệnh nhân đồng ý chuyển sang insulin.
Khảo sát các yếu tố có liên quan đến rào cản sử dụng insulin. TỔNG QUAN TÀ I LIỆU 2. TỔNG QUAN VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 2. Định nghĩa Bệnh ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai.
Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [1]. Dich Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) 2021, ĐTĐ là một trong những bệnh lý phát triển nhanh nhất toàn cầu của thế kỷ 21, cứ 10 người trong độ tuổi từ 20 – 79 tuổi thì có 1 bệnh nhân ĐTĐ, với con số mắc trên toàn thế giới là 537 triệu người, tổng chi phí chi trả y tế là 206 tỷ USD. Bệnh gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, cắt cụt chi, và có thể dẫn đến tử vong, theo ước tính có 2,5 triệu người tử vong do ĐTĐ (IDF 2021) [49]. Dữ liệu cập nhật của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) cho thấy năm 2021 Việt Nam có 3,9 triệu người trưởng thành mắc ĐTĐ với tỷ lệ 6% dân số [49].
Phân loại Phân loại ĐTĐ theo (ADA 2022) đươc̣ chia thành 4 loa ̣i [15]: 1. Bệnh đái tháo đường loại 1: do sự phá hủy tế bào β tự miễn, thường dẫn đến thiếu insulin tuyê ̣t đố i, bao gồm bệnh tiểu đường tự miễn tiềm ẩn ở tuổi trưởng thành. Bệnh đái tháo đường loại 2: do mất dần sự tiết insulin của tế bào β thường xuyên trên nền đề kháng insulin. Các loại bệnh đái tháo đường cụ thể do các nguyên nhân khác: các hội chứng tiểu đường đơn nguyên (như bệnh tiểu đường ở trẻ sơ sinh và bệnh tiểu đường khởi phát ở tuổi trưởng thành), bệnh của tuyến tụy ngoại tiết (chẳng hạn như bệnh xơ nang và viêm tuyến tụy), và bệnh tiểu đường do thuốc hoặc hóa chất gây ra (chẳng hạn như sử dụng glucocorticoid, trong điều trị HIV/AIDS, hoặc sau khi cấy ghép nội tạng).
Đái tháo đường thai kỳ (bệnh đái tháo đường được chẩn đoán ở 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối thai kỳ mà không rõ ràng là đái tháo đường trước khi mang thai). Đă ̣c điể m chung củ a đá i thá o đườ ng tí p 1 và tí p 2 [23]. Đă ̣c điể m Típ 1 Típ 2 Tuổ i khởi phát Phổ biế n < 30 tuổ i Phổ biế n > 30 tuổ i Béo phì Không phổ biế n Rấ t phổ biế n Toan ceton Có Không Thay đổ i: thấ p, trung bình Nồ ng đô ̣ insulin huyế t tương Cực thấ p tới không hoă ̣c tăng, phu ̣ thuô ̣c vào nô ̣i sinh phát hiê ̣n mức đô ̣ kháng insulin và thiế u hu ̣t tiế t insulin Dễ phát triể n biế n chứng đái tháo đường ( bê ̣nh võng ma ̣c, Có Có bê ̣nh thâ ̣n, bê ̣nh thầ n kinh, bê ̣nh xơ vữa tiñ h ma ̣ch ) 2. Chẩn đoán Tiểu đường được chẩn đoán bằng cách xét nghiệm đường huyết.
Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chí sau đây [1]: a) Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75 g glucose bằng đường uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngưng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất.
Lưu ý: 5 - Glucose huyết đói được đo khi BN nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 – 14 giờ). - Nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: BN nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng 75 g glucose, hòa trong 250 – 300 mL nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó BN ăn khẩu phần có khoảng 150 – 200 g carbohydrat mỗi ngày, không mắc các bệnh lý cấp tính và không sử dụng các thuốc làm tăng glucose huyết. Định lượng glucose huyết tương tĩnh mạch. Mục tiêu điều trị [15] Bảng 2.
Mục tiêu điều trị cho BN đái tháo đường ở người trưởng thành [1] Mục tiêu Chỉ số HbA1C < 7%* Glucose huyết tương mao mạch 80 – 130 mg/dL (4,4 – 7,2 mmol/L) lúc đói, trước ăn Đỉnh glucose huyết tương mao < 180 mg/dL (10,0 mmol/L) mạch sau ăn < 140/90 mmHg. Nếu đã có biến chứng thận: < Huyết áp 130/85 – 80 mmHg LDL – C < 100 mg/dL (2,6 mmol/L), nếu chưa có biến chứng tim mạch. LDL – C < 70 mg/dL (1,8 mmol/L), nếu đã có Lipid máu biến chứng tim mạch. Triglycerid < 150 mg/dL (1,7 mmol/L) HDL – C > 40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và > 50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ *: Mục tiêu điều trị ở các cá nhân có thể khác nhau tùy tình trạng của BN.
Mục tiêu điều trị có thể nghiêm ngặt hơn: HbA1c < 6,5% (48 mmol/mol) nếu có thể đạt được và không có dấu hiệu đáng kể của hạ đường huyết và những tác dụng có 6 hại của thuốc: Đối với người bị bệnh ĐTĐ trong thời gian ngắn, bệnh ĐTĐ típ 2 được điều trị bằng thay đổi lối sống hoặc chỉ dùng metformin, trẻ tuổi hoặc không có bệnh tim mạch quan trọng.