Đặt vấn đề Quy hoạch sử dụng đất đai là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Chương II, Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật nhằm đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”. Luật Đất đai năm 2003 đã dành 10 điều, từ điều 21 đến điều 30 quy định về nguyên tắc, nội dung, trình tự, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp. Trong thời gian qua, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ nên công tác này đã được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước.
Thực hiện Luật Đất đai năm 1993 và các văn bản dưới luật, UBND huyện Văn Quan đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất huyện Văn Quan giai đoạn 2010 - 2015. Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất trong những năm qua đã cơ bản đáp ứng được các mục tiêu, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện, đặc biệt trong ngành sản xuất nông nghiệp, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai. Đến năm 2010 thực hiện Luật Đất đai năm 2003, huyện Văn Quan đã lập Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) đến năm 2015 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2015. Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo - TS.
Vũ Thị Quý, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 - 2013”. Mục đích nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn, xác định những nội dung đã đạt được và chưa đạt được trong phương án quy hoạch, trên cơ sở các đánh giá đó đề xuất một số giải pháp khắc phục để công tác QHSDĐ thực sự có ý nghĩa. Mục tiêu của đề tài - Tìm hiểu và đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Văn Quan – Tỉnh Lạng Sơn. - Phân tích, đánh giá tình hình sử dụng các loại đất.
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2013 của huyện Văn Quan. - Tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại trong công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất, từ đó đưa ra các giải pháp cho giai đoạn tiếp theo. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập nghiên cứu khoa học: Thông qua việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp em học hỏi được những kinh nghiệm và kiến thức thực tế, hiểu rõ được tầm quan trọng của công tác này, đồng thời củng cố vốn kiến thức của bản thân, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Đánh giá được tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Văn Quan, xác định những tồn tại chủ yếu trong việc thực hiện QHSDĐ, nguyên nhân và những giải pháp khắc phục.
n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận về quy hoạch sử dụng đất 2. Đất đai và vai trò của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế xã hội 2. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động.
Vì vậy, đất đai là tư liệu sản xuất (TLSX). Ngoài ra đất đai còn có các tính chất đặc biệt so với các TLSX khác như: Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý trí và nhận thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động. Chỉ khi tham gia vào quá trình lao động sản xuất của xã hội dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành TLSX. Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích (số lượng) bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên địa cầu.
Các TLSX khác có thể tăng lên về số lượng tuỳ theo nhu cầu của con người. Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lý, hoá. Các TLSX khác có thể đồng nhất về chất lượng, quy cách, tiêu chuẩn (mang tính tương đối do công nghệ quy định). Tính không thay thế: Đất không thể thay thế bằng các TLSX khác, các TLSX khác tuỳ vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể được thay thế bằng TLSX khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế hơn.
Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (khi sử dụng không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác). Các TLSX khác có thể được sử dụng ở mọi chỗ, mọi nơi, có thể di chuyển tuỳ theo nhu cầu sử dụng của con người. Tính vĩnh cửu: Đất đai là TLSX vĩnh cửu, nếu biết sử dụng hợp lý đặc biệt là trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, n 4 ngược lại có thể còn làm cho đất đai tăng tính chất sản xuất (độ phì) cũng như hiệu quả sử dụng. Khả năng tăng tính chất sản xuất của đất phụ thuộc vào phương thức sử dụng.
Các TLSX khác đều bị hư hỏng dần trong quá trình sử dụng và giảm hiệu ích sử dụng cuối cùng bị đào thải khỏi quá trình sản xuất (Nguyễn Đình Thi (2003), Giáo trình quy hoạch phát triển nông thôn) [7].2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế - xã hội Đất đai giữ vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người, như Mác khẳng định: “Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ. Lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ”. Đối với mỗi ngành khác nhau thì đất đai có vai trò khác nhau. * Trong các ngành phi nông nghiệp Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các khoáng sản).
Trong các ngành này việc sử dụng đất không đòi hỏi đến độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật, các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất, mà chủ yếu cần quan tâm đến các tính chất cơ lý, vật lý của đất (đối với các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng), các nguồn tài nguyên có sẵn trong lòng đất (với các ngành khai khoáng). Bên cạnh đó đặc điểm kiến tạo địa hình, cảnh quan thiên nhiên đã cung cấp cho con người cơ hội để thưởng thức, giải trí nâng cao đời sống vật chất, tinh thần. * Trong các ngành nông - lâm nghiệp Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới xáo) và công cụ lao động hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi). Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất.
Định nghĩa về quy hoạch đất đai Để thực hiện một phương án QHSDĐĐ (quy hoạch sử dụng đất đai) hoàn thiện thì cần thiết phải nắm rõ được khái niệm, bản chất, nội dung của quy hoạch đất đai. Quy hoạch là việc xác lập một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: Phân bổ, bố trí, sắp xếp tổ chức đất đai tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. QHSDĐĐ là hệ thống các biện pháp của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như một TLSX, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường. Như vậy, thực chất của QHSDĐĐ là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao, thực hiện đồng thời chức năng là: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và đưa ra các biện pháp sử dụng đất đai phù hợp với yêu cầu hiện tại tương thích với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai.
Việc lập quy hoạch nhằm làm các nhiệm vụ cơ bản: + Xác định sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm cơ sở để giao đất và đầu tư phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu dân sinh. Là điều kiện tiền đề cho xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. + Tổ chức lại việc sử dụng đất đai, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí, tránh trường hợp chuyển mục đích tuỳ tiện làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp. + Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực như tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất đai, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường đất (Nguyễn Đình Thi,2010) [8].
Cơ sở pháp lý về quy hoạch sử dụng đất đai 1. Cơ sở pháp lý - Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; - Luật Đất đai năm 2003; - Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về n 6 thi hành Luật Đất đai; - Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường v/v hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; - Thông tư 19/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn, lập điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.