Chương 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Đất, đất đai và quản lý sử dụng đất 1. Đất và đất đai Pat (Soil): Theo V.William, đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cây trồng. Theo Docutraev: đất là vật thê tự nhiên đặc biệt hình thành do tác động tổng hợp của các yếu tố sinh vật, khí hậu, đá me, địa hình, thời gian và tác động của con người.
Dat đai (Land): Theo Brinkman va Smyth (1976), về mặt dia ly đất đai là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính ôn định, hay có chu kỳ dự đoán được trong khu vực sinh khí quyên theo chiều thang từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm: không khí, đất, lớp địa chất, nước, quan thé thực vật và động vật, kết quả của những hoạt động bởi con người. Chat lượng dat đai (Land Quality - LQ): Là thuộc tinh của đất có ảnh hưởng tới tính bền vững đất đai đối với một kiểu sử dụng cụ thể như: đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa (loại đất), độ đốc (0 - 3°; >3 - 8°;. Hệ thống sử dụng đất (Land Use System — LUS): là sự kết hợp của một loại sử dụng đất với một điều kiện đất đai riêng biệt tạo thành hai hợp phần tác động khăng khít lẫn nhau, từ các tương tác này sẽ quyết định đặc trưng về mức độ và loại chỉ phí đầu tư, loại cải tọa đất đai và năng suất, sản lượng của sử dụng đất (Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam, 2011). Đánh giá đất đai (Land Evaluation — LE): FAO đã định nghĩa về đánh giá đất đai như sau: “Đánh giá đất dai là quá trình so sánh, doi chiếu những tính chất vốn có của vat/khoanh đất can đánh giá những tinh chất đất dai mà loại yêu cau sử dung đất can phải có ” (FAO, 1976).
Yêu cầu sử dụng đất đai (Land Use Requirement - LUR): Là những điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến năng suất và sự ôn định của loại sử dụng đất đai hay đến tình trạng quản lý và thực hiện loại sử dụng đất đai đó. Những yêu cầu sử dụng đất đai thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu. Sử dung đất, phân loại sử dụng đất Sử dụng đất (land uses): Đó là hoạt động tác động của con người vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn trong quá trình sử dụng. Trên thực tế có nhiều loại hình sử dụng đất chủ yếu như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất trồng cỏ, đất trồng rừng, đất cảnh quan du lịch, v., ngoài ra còn có đất sử dụng đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng chủ yếu trên cùng một diện tích đất.
Kiểu sử dung đất có thé là trong hiện tại nhưng cũng có thé là trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học thay đôi. Trong mỗi kiêu sử dụng đất thường gắn với những đối tượng cây trồng hay vật nuôi cụ thé (Phạm Chi Thành va Đào Châu Thu, 1998). - Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tô hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Căn cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ồn định và bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất.
Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. - Sử dụng đất là hoạt động tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người lên đất đai nhằm phục vụ mục tiêu kinh tế xã hội cho con người. Loại hình sử dụng đất tùy thuộc vào mục đích tác động cụ thể của con người và được quy định cụ thể tại điều số 10 trong luật đất đai 2013.
Vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau: + Ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí dé hoàn thiện quá trình lao động, là kho tang dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất. + Ngành nông — lâm nghiệp: Dat dai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo.) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng dé trồng trọt, chăn nuôi. Quá trình sản xuất nông — lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất.
Vai trò của đất Đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất trong ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. - Đối với sản xuất nông nghiệp: Dat đai giữ vai trò tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất, cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng của lao động, là công cụ hay phương tiện lao động. Quá trình sản xuất nông nghiệp luôn liên quan chặt chẽ đến độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất. - Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí dé hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất.
Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phục thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đắt, chất lượng thảm thực vật và các tính chất có sẵn trong đất. Đất đai đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển KT - XH của mỗi quốc gia; cần thiết cho tat cả các ngành kinh tế quốc dân. Dat đai tham gia vào tat cả các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ như một tư liệu sản xuất đặc biệt. Các tác động của con người trong việc khai thác và sử dụng đất đai hoàn toàn bị chi phối bởi các quy luật KT-XH.
Đất đai là sự vật địa lý, KT-XH nên nó có hai thuộc tính tự nhiên (bao gồm các đặc tính không gian như diện tích bề mặt, hình thể, chiều dài, chiều rộng va vi trí cùng với các đặc điểm về địa chất, địa hình, địa mạo và các tính chất sinh lý hoá của đất kết hợp với giá trị đầu tư vào đất đai) và thuộc tính XH (chính là vị thê của đât đai - là hình thức đo sự mong muôn về mặt xã hội gắn với đât đai tại một vị trí nhất định, là những thuộc tính phi vật thể đặc trưng cho khả năng của đất dai đáp ứng nhu cầu hoạt động KT - XH của con người) (Hodng Hữu Phê, 2000). Quy hoạch sử dụng đất 1. Khái niệm Quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất Quy hoạch: là một hệ thống các biện pháp nhằm sắp xếp, bồ trí, tổ chức các không gian lãnh thô quy hoạch, nó gắn với định hướng phát triển kinh tế xã hội của từng vùng, từng địa phương. Quy hoạch sử dụng đất: - Quy hoạch sử dụng đất như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai (Dent, 1988; 1993).
- Quy hoạch sử dụng đất như là dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác (Fresco và ctv, 1992). - Trong phương pháp tông hợp và người sử dụng đất là trung tâm (UNCED, 1992; trong FAO, 1993): đã đổi lại định nghĩa về QHSDĐ như sau: “Quy hoạch sử dụng đất là một tiến trình xây dựng những quyết định dé đưa đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng dé cung cấp những cái có lợi bền vững nhất (FAO, 1995). - Theo Luật Dat đai 2013: QHSDĐ là việc phân bồ và khoanh vùng dat dai theo không gian sử dung cho các mục tiêu phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng KT-XH và đơn vị hành chính trong khoảng thời gian xác định. Kế hoạch sử dụng đất: là sự chia nhỏ, chỉ tiết hóa QHSDĐ về mặt nội dung và thời kỳ, được lập theo cấp lãnh thổ hành chính.
Như vậy về thực chất OH,KHSDĐ là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa dat dai vào sử dụng bên vững dé mang lại hiệu quả cao nhất. OHSDĐ không chỉ là một hoạt động kỹ thuật mà còn là công cụ quan lý nhà nước trong việc phát triển kinh tế - chính trị. Đặc điểm của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất đai thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử xã hội, tính khống ché vi mô, tinh chi đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thông kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân. Các đặc điểm quy hoạch sử dung đất đai được cụ thé như sau: - Tinh lịch sử — xã hội: Qua mỗi giai đoạn lịch sử lại có các chế độ cai trị khác nhau, lịch sử phát triển của mỗi loại giai đoạn khác nhau.
Mỗi hình thái kinh tế — xã hội đều có một phương thức sản xuất thé hiện theo hai mặt: lực lượng sản xuất (quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất). Trong quy hoạch sử dụng đất, luôn nảy sinh mối quan hệ giữa người với đất đai. Các công việc của con người như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế.