Chương 1 TONG QUAN 1. Dat, dat dai va quan ly sir dung dat 1. Dat và Dat đai va phân loại sử dung đất 1. Dat và dat dai Năm 1879, nha bác học người Nga Dokuchaev cho rang: Đất là một thực thé tự nhiên có lịch sử riêng biệt và độc lập, được hình thành dưới sự tác động tổng hợp của các yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian.
Sau Dokuchaev, các nhà thô nhưỡng học bổ sung một yếu tố nữa là sự tác động của con người trong sự hình thành đất. Như vậy, đất là một vật thể tự nhiên đặc biệt và xác định đất như một hàm số của các yếu tố hình thành đất: D = f (DM, SV, KH, DH, CN) t. Đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng. Như vậy theo quan điểm này, đặc tính cơ bản nhất của đất là độ phì nhiêu, là khả năng cho sản phẩm (Nguyễn Mười và cộng sự, 2000).
Dat đai, về mặt thuật ngữ khoa học có thé hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai” là một điện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yêu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: Khí hậu bề mặt, thé nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông suối, đầm lầy.), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại dé lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sa, nhà cửa. Như vậy, “đất đai” là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyền, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất), theo chiều nằm ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật và các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loai người. Hiện nay, con người đã thừa nhận đất đai đối với loài người có rất nhiều chức năng, trong đó có những chức năng cơ bản sau: Chức năng sản xuất: Đất dai là tư liệu sản xuất quan trọng trong tat các các hoạt động sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuối. Chức năng môi trường sống: Dat dai là môi trường sống của nhiều sinh vật sống trên cạn và sinh vật sống trong lòng đất.
Chức năng cân bằng sinh thái: Đất đai có vai trò quan trọng với hệ sinh thái với việc phản xạ, hấp thụ và chuyên đôi năng lượng phóng xạ từ mặt trời và tuần hoàn khí quyền của địa cầu. Chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước: Dat đai là kho tàng lưu trữ nước mặt và nước ngầm vô tận, có tác động mạnh tới chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và có vai trò điều tiết nước rất to lớn. Chức năng dự trữ tài nguyên: Đất đai là kho tài nguyên khoáng sản cung cấp cho mọi nhu cầu sử dụng của con người. Chức năng bảo tôn, bảo tàng lịch sử: Đất đai là trung gian để bảo vệ các chứng tích lich sử, văn hóa của loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện khí hau, thời tiết và cả quá trình sử dụng đất trong quá khứ (FAO, 1993).
Đất đai có nhiều chức năng và công dụng, tuy nhiên không phải tất cả đều bộc lộ ngay tại một thời điểm. Có nhiều chức năng của đất đai đã bộc lộ trong quá khứ, đang thé hiện ở hiện tại và nhiều chức năng sẽ xuất hiện trong tương lai. Do vậy, đánh giá tiềm năng đất đai là công việc hết sức quan trọng nhằm phát hiện ra các chức năng hiện có và sẽ có trong tương lai. Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người, đất với lớp phủ thổ nhưỡng và mặt bằng lãnh thé (bao gồm các tài nguyên trên mặt đất, trong lòng đất và mặt nước) là điều kiện đầu tiên.
Nói về tầm quan trọng của đất, Các Mác viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất là vi trí dé định cư, là nền tảng của tập thể”. Nói về vai trò của đất với sản xuất, Mác khẳng định “Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ. Lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ”. Dat là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và ton tại ngoài ý muốn của con người.
Dat được tồn tại như một vật thé lịch sử tự nhiên. Cần nhận thay rằng, đất đai ở hai thé khác nhau: - Nếu đất tách rời sản xuất (tách rời con người) thì đất tồn tại như một vật thê lịch sử tự nhiên (trời sinh ra đất) cứ thế tồn tai và biến đổi. Như vậy, đất không phải là tư liệu sản xuất. - Nếu đất gắn liền với sản xuất, nghĩa là gắn với con người, gắn với lao động thì đất được coi là tư liệu.
Đất chỉ khi tham gia vào quá trình lao động, khi kết hợp với lao động sống và lao động quá khứ thì đất mới trở thành một tư liệu sản xuất (Nguyễn Đức Minh, 1994). Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường dé tác động, như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất.) vừa là phương tiện lao động (mặt bằng cho sản xuất, dùng dé gieo trồng, nuôi gia súc.), vì vậy đất đai là “Tu liệu san xuất”. Có thé nói rằng đất không thé là đối tượng của từng cá thé. Dat mà chúng ta đang sử dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta.
Đất là điều kiện vật chat cần thiết dé tồn tại va tái sản xuất cho các thế hệ liếp nhau của loài người. Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hon cho các thế hệ sau (Viện Điều tra Quy hoạch Dat dai, 1998). Phân loại sử dụng đất Theo Luật Dat đai 2013, đất đai bao gồm 3 nhóm dat chính: Nhóm đất nông nghiệp - Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; - Dat trồng cây lâu năm; - Dat rừng sản xuât; - Dat rừng phòng hộ: - Dat rừng đặc dung; - Đất nuôi trồng thủy sản; - Đất làm muối; - Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng dé xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, ké cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục dich học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh. Nhóm đất phi nông nghiệp - Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; - Đất xây dựng trụ sở cơ quan; - Dat sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; - Dat xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đảo tạo, thé dục thé thao, khoa hoc và công nghệ, ngoại giao va công trình sự nghiệp khác; - Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; - Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất cho; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; - Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; - Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng: - Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; - Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà dé chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất 6; Nhóm dat chưa sử dụng Gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dung.
Các van dé cơ bản quản lý Nhà nước về đất đai 1. Khái niệm và nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai a) Khái niệm Quản lý nhà nước về đất đai là hoạt động tô chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hành vi của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai dé thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân về dat đai nhằm duy trì và phat triển các quan hệ đất đai theo trật tự pháp luật quy định. Như vậy quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước về đất đai: Đó là các hoạt động trong việc nắm và quản lý tình hình sử dụng đất đai; trong việc phân bố đất đai vào các mục đích sử dụng theo chủ trương của Nhà nước; trong việc kiểm tra, giảm sát quá trình sử dụng đất (Nguyễn Đắc Nhẫn, 2014). b) Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai Đối tượng của quản lý đất đai là tài nguyên đất đai, cho nên quản lý nhà nước về đất đai phải đảm bảo nguyên tắc sau: - Phải quản lý toàn bộ vốn đất đai hiện có của quốc gia, không được quản lý lẻ tẻ từng vùng.
- Nội dung tài liệu quản lý không phụ thuộc vào mục đích sử dụng. - Số liệu quản lý đất đai phải bao hàm cả số lượng, chất lượng, loại, hạng mục phục vụ cho mục đích sử dụng đât của các loại đó.