Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học linh trưởng hàng đầu Đông Nam Á với 25 loài thuộc 3 họ chính, trong đó 92% số loài nằm trong Danh lục Đỏ thế giới của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN 2019) và 88% được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2007. Tuy nhiên, áp lực săn bắt trái phép cùng sự thu hẹp sinh cảnh đang đe dọa trực tiếp đến sự sinh tồn của nhiều loài nguy cấp. Điển hình là loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), loài đặc hữu Đông Dương được xếp ở mức Nguy cấp (EN) theo Danh lục Đỏ IUCN và thuộc nhóm IB theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định quy mô quần thể, cấu trúc bầy đàn, đặc điểm phân bố không gian và nhận diện các mối đe dọa chủ yếu đối với Chà vá chân nâu tại khu vực đề xuất thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Phạm vi nghiên cứu bao quát 22 tiểu khu với tổng diện tích hơn 20.000 ha rừng nhiệt đới thường xanh đất thấp nguyên sinh, thuộc vùng sinh thái đất thấp miền Trung rộng khoảng 500.000 ha dọc biên giới Việt Nam - Lào.

Thời gian khảo sát thực địa được triển khai từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2017, chia thành 2 đợt điều tra chuyên sâu. Ý nghĩa then chốt của công trình là thiết lập bộ cơ sở dữ liệu khoa học định lượng đầu tiên về quần thể Chà vá chân nâu tại Khe Nước Trong, cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ chuyển đổi hạng bảo tồn từ Rừng phòng hộ Động Châu thành Khu bảo tồn thiên nhiên cấp quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh thái học quần thể và lý thuyết sinh thái cảnh quan nhằm đánh giá mối quan hệ tương tác giữa loài linh trưởng với cấu trúc sinh cảnh rừng nhiệt đới. Hệ thống phân loại thú linh trưởng được áp dụng đồng bộ theo khung phân loại quốc tế của Christian Roos cùng các cộng sự (2014), công nhận Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ chính gồm Họ Cu li (Lorisidae), Họ Khỉ (Cercopithecidae) và Họ Vượn (Hylobatidae).

Các khái niệm trọng tâm bao gồm: cấu trúc bầy đàn, phân tầng sinh thái, sinh cảnh ưa thích của giống Pygathrix, chỉ số đa dạng sinh học và ngưỡng dung nạp quần thể. Cơ sở pháp lý và bảo tồn được đối chiếu dựa trên Nghị định 160/2013/NĐ-CP, Nghị định 64/2019/NĐ-CP, Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Phụ lục I của Công ước CITES 2016.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp từ hai kênh chính: điều tra xã hội học và khảo sát sinh thái thực địa. Phương pháp phỏng vấn bán định hướng được thực hiện với cán bộ kiểm lâm, nhân viên bảo vệ rừng và thợ săn giàu kinh nghiệm tại xã Kim Thủy nhằm xác định sơ bộ vị trí xuất hiện của linh trưởng.

Phương pháp điều tra theo tuyến là phương pháp cốt lõi. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 30 tuyến điều tra cố định được thiết lập qua các dạng sinh cảnh rừng thường xanh, chiều dài mỗi tuyến từ 2,0 km đến 2,5 km, trải dài từ độ cao 208 m đến 914 m. Lý do lựa chọn phương pháp điều tra tuyến lặp lại trong 3 ngày liên tục là nhằm hạn chế sai số quan sát, kiểm soát triệt để hiện tượng đếm trùng lặp và tăng độ tin cậy thống kê khi ghi nhận các loài linh trưởng sống trên tán rừng cao. Đội khảo sát gồm 2 đến 3 thành viên di chuyển với vận tốc 1,0 - 1,5 km/h trong khung giờ từ 7h00 đến 17h00, sử dụng ống nhòm chuyên dụng và thiết bị GPS định vị tọa độ.

Mức độ ảnh hưởng của các mối đe dọa được định lượng bằng phương pháp cho điểm của Margoluis và Salafsky (2001) dựa trên 3 tiêu chí: phạm vi tác động, cường độ phá hủy và tính cấp thiết. Dữ liệu không gian và bản đồ phân bố được xử lý đồng bộ trên phần mềm MapInfo 15 trong giai đoạn nghiên cứu từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa trên 30 tuyến điều tra đã ghi nhận được 68 đàn Chà vá chân nâu qua 90 lần quan sát trực tiếp. Số lượng cá thể trong mỗi đàn có sự dao động lớn từ 3 đến 50 cá thể, với quy mô trung bình đạt 13 đến 14,5 cá thể/đàn.

Cấu trúc đàn được chia thành 4 nhóm quy mô rõ rệt: nhóm đàn nhỏ từ 3 đến 10 cá thể chiếm tỷ lệ cao nhất với 54,41% (37 đàn); nhóm từ 11 đến 20 cá thể chiếm 23,53% (16 đàn); nhóm từ 21 đến 30 cá thể chiếm 16,18% (11 đàn); và nhóm đàn lớn trên 30 cá thể chiếm tỷ lệ thấp nhất là 5,88% (4 đàn).

Về phân bố không gian, có sự chênh lệch rõ rệt giữa hai khu vực: khu vực phía Tây ghi nhận 54 đàn (chiếm 79,41% tổng số đàn), trong khi khu vực phía Đông chỉ phát hiện 14 đàn (chiếm 20,59%). Xét theo độ cao địa hình, loài tập trung nhiều nhất ở đai cao 400 - 600 m với 29 đàn (chiếm 42,65%); đai cao 200 - 400 m ghi nhận 20 đàn (chiếm 29,41%); đai cao 600 - 800 m có 16 đàn (chiếm 23,53%) và đai cao trên 800 m chỉ ghi nhận 3 đàn (chiếm 4,41%).

Thảo luận kết quả

Sự tập trung vượt trội của Chà vá chân nâu tại phía Tây (79,41%) bắt nguồn trực tiếp từ chất lượng sinh cảnh. Phía Tây sở hữu diện tích rừng giàu nguyên sinh với cấu trúc 5 tầng tán khép kín, tập trung nhiều cây gỗ lớn thuộc họ Trám, họ Dẻ và họ Dâu tằm – nguồn cung cấp thức ăn và vị trí ngủ an toàn trên tán cao (tầng 10 - 25 m). Ngược lại, khu vực phía Đông chủ yếu là rừng nghèo và rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, chịu áp lực tác động mạnh hơn từ các hoạt động dân sinh của 2 xã vùng đệm Kim Thủy và Lâm Thủy.

So với các nghiên cứu linh trưởng tại miền Trung và ghi nhận của Timmins & Duckworth tại Lào (loài phân bố rộng từ 200 m đến 1.600 m), quần thể tại Khe Nước Trong có xu hướng gắn liền với đai núi đất thấp 400 - 600 m gần các thung lũng ven sông Sa Ram và suối Khe Bang.

Dữ liệu khảo sát được mô hình hóa qua hệ thống bản đồ phân bố GIS và biểu đồ cột tần suất cá thể, minh chứng tính ổn định của cấu trúc xã hội loài. Kết quả đánh giá theo thang điểm Margoluis & Salafsky xác định 4 mối đe dọa chính: Săn bắt động vật hoang dã xếp hạng I (11 điểm), Khai thác gỗ trái phép xếp hạng II (8 điểm), Khai thác vàng xếp hạng III (7 điểm) và Thu hái lâm sản ngoài gỗ xếp hạng IV (6 điểm). Việc phát hiện nhiều bẫy dây phanh xe đạp và các lán trại bỏ hoang khẳng định áp lực săn bắt vẫn là nguy cơ nghiêm trọng nhất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập mạng lưới tuần tra và tháo gỡ bẫy chuyên sâu: Ban quản lý Rừng phòng hộ Động Châu phối hợp với Hạt Kiểm lâm Lệ Thủy triển khai tuần tra định kỳ tại 30 tuyến giám sát trọng điểm, mục tiêu loại bỏ 100% bẫy bắt thú và giảm 85% các vụ xâm phạm rừng trái phép trong giai đoạn 2020 - 2022.

Thứ hai, hoàn thiện hồ sơ nâng cấp thành lập Khu Bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong: Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình và Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cần phê duyệt quy hoạch phân khu chức năng cho 22 tiểu khu (hơn 20.000 ha), phân định rõ vùng bảo vệ nghiêm ngặt ở phía Tây (nơi tập trung 54 đàn Chà vá chân nâu) trong thời gian 2020 - 2021.

Thứ ba, triển khai chương trình sinh kế thay thế cho cộng đồng vùng đệm: Ủy ban Nhân dân huyện Lệ Thủy phối hợp các tổ chức phi chính phủ (như VietNature) hỗ trợ kỹ thuật canh tác, giao khoán bảo vệ rừng cho 73,6% hộ dân người Vân Kiều tại hai xã Kim Thủy và Lâm Thủy, hướng tới nâng thu nhập bình quân thêm 20% trong giai đoạn 2021 - 2025 nhằm giảm phụ thuộc vào lâm sản.

Thứ tư, xây dựng hệ thống giám sát đa dạng sinh học dài hạn: Thiết lập trạm quan trắc cố định, ứng dụng bẫy ảnh kỹ thuật số và phần mềm SMART trong giám sát quần thể linh trưởng, công bố báo cáo hiện trạng định kỳ 2 năm/lần cho lực lượng kiểm lâm địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng Kiểm lâm: Cung cấp luận cứ khoa học và bản đồ phân bố chi tiết giúp Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình, Ban quản lý rừng xây dựng kế hoạch phân bổ lực lượng bảo vệ rừng trúng đích tại các tiểu khu 515, 517, 531, 534, 536.

Các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia bảo tồn động vật hoang dã: Cung cấp bộ số liệu thực địa tin cậy về 68 đàn Chà vá chân nâu, hỗ trợ xây dựng các dự án tài trợ bảo tồn đa dạng sinh học dải Trường Sơn.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Lâm nghiệp: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra tuyến, kỹ thuật xử lý dữ liệu GIS và đánh giá mối đe dọa sinh thái trong quản lý tài nguyên rừng.

Chính quyền địa phương huyện Lệ Thủy: Cung cấp góc nhìn thực tiễn để hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên tại 2 xã biên giới Kim Thủy và Lâm Thủy.

Câu hỏi thường gặp

Số lượng đàn và cá thể Chà vá chân nâu ghi nhận tại Khe Nước Trong là bao nhiêu? Nghiên cứu đã ghi nhận chính xác 68 đàn Chà vá chân nâu qua 90 lần quan sát trên 30 tuyến điều tra thực địa. Quy mô đàn dao động từ 3 đến 50 cá thể, kích thước đàn trung bình đạt từ 13 đến 14,5 cá thể/đàn, trong đó đàn nhỏ dưới 10 cá thể chiếm đa số (54,41%).

Tại sao quần thể Chà vá chân nâu lại phân bố tập trung chủ yếu ở phía Tây khu bảo tồn? Khu vực phía Tây ghi nhận tới 54 đàn (chiếm 79,41% tổng số đàn) do nơi đây duy trì diện tích lớn rừng giàu nguyên sinh với độ che phủ tán cao trên 80%, dồi dào cây thức ăn và ít chịu sự tác động tiêu cực từ hoạt động khai thác dân sinh so với khu vực phía Đông.

Mối đe dọa nào nguy hiểm nhất đối với loài Chà vá chân nâu tại khu vực nghiên cứu? Theo phương pháp đánh giá của Margoluis và Salafsky, bẫy bắt và săn bắn động vật hoang dã là mối đe dọa nguy hiểm nhất (xếp hạng I với 11 điểm tổng). Khảo sát thực địa đã phát hiện nhiều bẫy dây phanh xe đạp và dấu vết lán trại của thợ săn rải rác trong rừng.

Chà vá chân nâu tại Khe Nước Trong thường xuất hiện nhiều nhất ở độ cao nào? Loài Chà vá chân nâu phân bố chủ yếu ở đai cao từ 400 m đến 600 m với 29 đàn ghi nhận (chiếm 42,65%), tiếp theo là đai cao 200 m đến 400 m với 20 đàn (chiếm 29,41%). Các vị trí trên 800 m chỉ ghi nhận 3 đàn do điều kiện thực vật kém phong phú hơn.

Đóng góp khoa học và thực tiễn lớn nhất của luận văn này là gì? Luận văn đã lấp đầy khoảng trống dữ liệu khoa học chuyên sâu về Chà vá chân nâu tại Động Châu - Khe Nước Trong, cung cấp bản đồ phân bố 68 đàn và minh chứng thuyết phục để các cấp chính quyền ra quyết định thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên cấp quốc gia.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định được 68 đàn Chà vá chân nâu với quy mô trung bình 13 - 14,5 cá thể/đàn, khẳng định Khe Nước Trong là nơi lưu giữ quần thể linh trưởng nguy cấp quan trọng bậc nhất miền Trung.
  • Cấu trúc không gian phản ánh tính chuyên biệt sinh thái cao khi 79,41% số đàn tập trung tại rừng giàu phía Tây và 72,06% số đàn phân bố ở dải độ cao dưới 600 m.
  • Xác định và lượng hóa 4 nhóm mối đe dọa sinh cảnh, trong đó nạn săn bắt và khai thác gỗ trái phép chiếm vị trí hàng đầu cần ưu tiên xử lý.
  • Cung cấp cơ sở khoa học vững chắc phục vụ lộ trình thành lập chính thức Khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong giai đoạn 2020 - 2022.
  • Kiến nghị các nhà quản lý, tổ chức bảo tồn và địa phương triển khai ngay các giải pháp tuần tra thực địa gắn liền hỗ trợ sinh kế bền vững cho đồng bào vùng đệm trong giai đoạn 2020 - 2025.