Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam có đặc trưng địa hình ba phần tư là đồi núi, hệ thống sông ngòi dày đặc cùng khí hậu nhiệt đới gió mùa phân hóa đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phong phú của hệ động vật có xương sống nói chung và lớp Lưỡng cư (Amphibia) nói riêng. Tuy nhiên, tài nguyên rừng trong những thập kỷ gần đây đang đối mặt với sự suy thoái nghiêm trọng về cả diện tích lẫn chất lượng thảm thực vật. Lớp Lưỡng cư là nhóm động vật có xương sống đầu tiên thích nghi với đời sống ở cạn, mang nhiều đặc điểm sinh học và sinh thái đặc thù: chỉ cư trú ở môi trường nước ngọt, giới hạn trên các lục địa và nhạy cảm cao với sự biến đổi sinh cảnh sống. Trong hệ sinh thái tự nhiên, ếch nhái đóng vai trò là mắt xích trung gian quan trọng trong lưới thức ăn, là tác nhân sinh học kiểm soát côn trùng gây hại cho nông - lâm nghiệp, đồng thời cung cấp nguồn thực phẩm, dược liệu và mẫu vật cho nghiên cứu khoa học.

Khu rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng – Pá Khoang (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) có chức năng phòng hộ đầu nguồn sông Nậm Rốm, đồng thời lưu giữ các nguồn gen động thực vật đặc hữu, quý hiếm. Mặc dù vậy, dữ liệu về khu hệ ếch nhái tại đây còn rất hạn chế. Dự án "Rà soát, điều chỉnh Quy hoạch chi tiết khu rừng Di tích lịch sử và cảnh quan Môi trường Mường Phăng – Pá Khoang huyện Điện Biên đến năm 2025, định hướng đến năm 2030" (Trung tâm Quy hoạch và Thiết kế Nông lâm nghiệp tỉnh Điện Biên, 2015) mới chỉ thống kê sơ bộ 12 loài thuộc 4 họ, 1 bộ mà không xác định cụ thể danh tính phân loại từng loài. Việc thiếu vắng danh lục chi tiết và dữ liệu về sự phân bố đã cản trở công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương.

Khóa luận được xác lập với các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu thành phần loài, sự phân bố và tình trạng bảo tồn của các loài ếch nhái, làm cơ sở khoa học cho việc quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu rừng Di tích lịch sử cảnh quan môi trường Mường Phăng – Pá Khoang và xã Pa Thơm, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá thành phần loài ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.
    2. Xác định sự phân bố của các loài ếch nhái theo sinh cảnh và đai cao tại khu vực nghiên cứu.
    3. Xác định các mối đe dọa đến các loài ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.
    4. Đưa ra các giải pháp bảo tồn các loài ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lớp Lưỡng cư không đuôi (bộ Anura).
  • Phạm vi không gian: Khu rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng – Pá Khoang (thuộc địa phận hai xã Mường Phăng và Pá Khoang với tổng diện tích 9.158,56 ha) và xã biên giới Pa Thơm (diện tích 87 km²), huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2018 đến tháng 6/2019, bao gồm 2 đợt điều tra thực địa ngoại nghiệp trong 21 ngày: Đợt 1 từ ngày 04/3/2019 đến 15/3/2019; Đợt 2 từ ngày 23/3/2019 đến 30/3/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận áp dụng hệ thống phân loại học và các khung pháp lý, lý thuyết sinh thái học sau:

  • Khung phân loại học và danh pháp: Sử dụng hệ thống phân loại của Frost (2018), Nguyen et al. (2009); các khóa định loại và tài liệu chuyên khảo của Ohler & Delorme (2006), Bain et al. (2009), Rowley et al. (2011), Ziegler et al. (2001), Orlov et al. (2012), Hecht et al. (2013), Luu et al. (2013, 2014), Hoàng Xuân Quang (2012).
  • Tiêu chí phân chia sinh cảnh: Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/06/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tiêu chí xác định và phân loại rừng kết hợp bảng phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng (1978).
  • Đánh giá tình trạng bảo tồn: Sách Đỏ Việt Nam (phần Động vật, 2007), Danh lục Đỏ các loài bị đe dọa của IUCN (2019) và Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu:

  • Điều tra xã hội học sinh thái (phỏng vấn): Phỏng vấn 5 - 10 cán bộ kiểm lâm, cán bộ khoa học và 10 - 20 người dân địa phương (ưu tiên thợ săn bản địa). Sử dụng bộ phiếu phỏng vấn chuẩn hóa kết hợp hình ảnh màu và mẫu vật trực quan để ghi nhận tên địa phương, đặc điểm nhận dạng, sinh cảnh, mùa vụ và tình hình khai thác.
  • Điều tra thực địa theo tuyến: Thiết lập 8 tuyến điều tra đi qua các dạng địa hình, sinh cảnh và đai cao khác nhau, định vị bằng máy GPS:
    • Tuyến 1: Tuyến rừng bảo vệ nghiêm ngặt hồ Pá Khoang (dài 5,6 km).
    • Tuyến 2: Dọc suối rừng tự nhiên Mường Phăng (dài 3,2 km).
    • Tuyến 3: Tuyến đầm lầy và rừng núi đất (dài 2,1 km).
    • Tuyến 4: Tuyến tiếp giáp giữa rừng di tích với ruộng lúa bản Phăng mới (dài 5 km).
    • Tuyến 5: Tuyến vùng đệm qua bản Khá, bản Tân Bình về Ban quản lý (dài 7 km).
    • Tuyến 6: Tuyến núi đá vôi bản Pa Xa Lào, xã Pa Thơm (dài 4,3 km).
    • Tuyến 7: Tuyến suối và núi đá Pa Thơm, vượt bè qua sông (dài 5,6 km).
    • Tuyến 8: Tuyến thực địa xã Pa Thơm (dài 4,5 km). Thời gian điều tra chia ca: ban ngày (9h00 - 16h00) và ban đêm (19h00 - 24h00). Tốc độ di chuyển khoảng 1 km/h; thu bắt mẫu chủ yếu bằng tay không hoặc dụng cụ chuyên dụng.
  • Phương pháp nội nghiệp và xử lý hình thái:
    • Quy trình xử lý mẫu: Mẫu sau khi thu thập được gây mê trong 24 giờ bằng etyl axetat. Mẫu gan dùng cho phân tích ADN được bảo quản riêng trong cồn 95% (tuyệt đối không tiếp xúc foóc-môn). Tiêu bản hình thái được định hình và cố định trong cồn 80 - 90% từ 8 - 10 giờ, sau đó lưu trữ dài hạn trong cồn 70% tại phòng tiêu bản của Bộ môn Động vật rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp.
    • Đo đạc hình thái: Các chỉ số hình thái (SVL, HL, HW, SL, ED, TD, NS, EN, IML, UEW, TIB, FEM, HND, FTL, IN, ML, PL) được đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool và Etopoo với sai số ±0,01 mm. Công thức màng bơi được xác định theo phương pháp của Ohler & Delorme (2006) và Glaw & Vences (2007).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu lưỡng cư tại Việt Nam và tại địa bàn tỉnh Điện Biên. Trên bình diện cả nước, các khảo sát lưỡng cư khởi đầu từ thời kỳ thuộc Pháp với công bố của Albert Morice (1875) cùng các nghiên cứu phân loại giai đoạn 1939 - 1942. Đến giai đoạn sau năm 1954, các công trình của các nhà khoa học trong nước đã hệ thống hóa khu hệ ếch nhái Việt Nam: Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981) thống kê 69 loài tại miền Bắc; Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) công bố 82 loài; đến năm 2005 công bố 162 loài và năm 2009 nâng lên 176 loài thuộc 34 họ, 6 bộ. Nhiều nghiên cứu khu hệ địa phương tại miền Bắc được tác giả tổng hợp như công trình tại Thái Nguyên - Tuyên Quang - Hà Giang của Hoàng Văn Ngọc (2011) ghi nhận 86 loài; Lê Trung Dũng (2016) ghi nhận 32 loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (Điện Biên); Phạm Văn Anh (2016) ghi nhận 63 loài tại Copia và Sốp Cộp (Sơn La).

Đối với Khu rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng – Pá Khoang, tư liệu trước đó chỉ có kết quả từ dự án quy hoạch năm 2015 của Trung tâm Quy hoạch và Thiết kế Nông lâm nghiệp tỉnh Điện Biên với ghi nhận sơ bộ 12 loài, 4 họ, 1 bộ nhưng không nêu cụ thể tên loài khoa học. Do đó, việc tác giả thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về thành phần loài, phân bố và tình trạng bảo tồn mang tính kế thừa và bổ sung dữ liệu phân loại học cho khu vực.

Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết cơ sở phương pháp luận của đề tài, các bước chuẩn bị trang thiết bị nghiên cứu (GPS, đèn soi, bình ngâm, thước kẹp điện tử, khóa định loại), thiết kế 8 tuyến điều tra thực địa trên bản đồ và thực địa, nguyên tắc phỏng vấn các nhóm đối tượng (cán bộ kiểm lâm và thợ săn bản địa), các mẫu biểu thu thập thông tin và quy trình xử lý, cố định, bảo quản tiêu bản mẫu vật trong phòng thí nghiệm phục vụ định danh hình thái.

Đặc điểm cơ bản của khu vực nghiên cứu

Chương này phân tích tổng quan các điều kiện lập địa, tài nguyên rừng và tình hình kinh tế - xã hội:

  • Điều kiện tự nhiên: Khu rừng Mường Phăng – Pá Khoang nằm ở tọa độ 21°37'97'' - 21°49'43'' vĩ độ Bắc và 103°05'47'' - 103°18'58'' kinh độ Đông, diện tích 9.158,56 ha. Xã Pa Thơm nằm ở phía Tây Nam huyện Điện Biên, giáp biên giới Lào, có diện tích 87 km². Địa hình đặc trưng gồm núi đất trung bình (độ cao từ 880 m đến 1.635 m, độ dốc 30° - 35°), thung lũng hẹp quanh hồ Pá Khoang và hệ thống núi đá vôi tại Pa Thơm. Khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi cao có nhiệt độ trung bình năm 22,3°C (cao nhất tuyệt đối 26,3°C, thấp nhất tuyệt đối 3°C); độ ẩm không khí trung bình 82%; số giờ nắng 1.997 giờ/năm; lượng nước bốc hơi 652,7 mm/năm; lượng mưa trung bình từ 1.000 mm/năm, tập trung vào tháng 7 và 8.
  • Hiện trạng tài nguyên rừng: Tổng diện tích quy hoạch lâm nghiệp hai xã Mường Phăng và Pá Khoang là 6.729,64 ha; trong đó rừng đặc dụng chiếm 4.436,55 ha (theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ). Đất có rừng chiếm 45,48%, đất chưa có rừng chiếm 54,52%. Rừng giàu chỉ có 52,62 ha phân bố quanh khu di tích hầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp; rừng trung bình có 563,50 ha phân bố ven hồ Pá Khoang; diện tích rừng nghèo và đất chưa có rừng chiếm tới 83,89% diện tích quy hoạch rừng đặc dụng. Thảm thực vật ghi nhận 989 loài thực vật bậc cao thuộc 190 họ; khu hệ động vật có 135 loài thuộc 59 họ, 25 bộ của 4 lớp động vật có xương sống.
  • Kinh tế - xã hội: GRDP tỉnh Điện Biên quý I/2017 đạt 1.639,56 tỷ đồng. Tỷ lệ hộ nghèo và tập quán canh tác nương rẫy, chăn thả gia súc tự do trong rừng còn phổ biến, tạo sức ép lên diện tích rừng tự nhiên.

Kết quả nghiên cứu

Nội dung chương trình bày toàn bộ số liệu khảo sát và các phát hiện phân loại học của tác giả:

  • Thành phần loài và cấu trúc phân loại: Ghi nhận 13 loài ếch nhái thuộc bộ Không đuôi (Anura), đại diện cho 6 họ. Cụ thể: họ Ếch nhái chính thức (Dicroglossidae) có 3 loài; họ Ếch nhái (Ranidae) có 3 loài; họ Ếch cây (Rhacophoridae) có 3 loài; họ Nhái bầu (Microhylidae) có 2 loài; họ Cóc nhà (Bufonidae) có 1 loài; họ Cóc bùn (Megophryidae) có 1 loài. Trong đó, tác giả đã bổ sung 2 ghi nhận mới cho khu vực nghiên cứu là Chàng mẫu sơn (Hylarana maosonensis) và Ếch xanh (Odorrana chloronota).
  • Mô tả hình thái 4 loài tiêu biểu:
    • Chàng mẫu sơn (Hylarana maosonensis): Mẫu PT01N, SVL 48 mm, thu tại Pa Thơm ở độ cao 547 m. Màng nhĩ rõ, lưng màu nâu có đốm đen, hai bên sườn có đốm đen lớn trên nền vàng trắng, công thức màng bơi chi sau 1(1/2)I-2II(1/4)-2III1(1/2)-2(1/2)IV2(1/2)-1V.
    • Nhái bầu hoa (Microhyla ornata): Mẫu PK21, SVL 26,2 mm, thu tại Pá Khoang ở độ cao 931 m. Không có răng lá mía, màng nhĩ không rõ, lưng có vệt đen hình chữ V ngược viền ngoài đen trên nền nâu.
    • Ếch cây ki-o (Rhacophorus kio): Mẫu PT18N, SVL 74,3 mm, thu tại Pa Thơm ở độ cao 602 m trên cành cây cách mặt nước 1,5 - 2 m. Mặt lưng xanh lá cây có đốm trắng rải rác, chi trước và chi sau có màng bơi hoàn toàn màu vàng với đốm đen lớn, gờ da trên huyệt khuyết hình chữ W.
    • Ếch xanh (Odorrana chloronota): Mẫu PT05N, SVL 55,1 mm, thu ở Pa Thơm tại độ cao 464 m gần bờ suối. Màng nhĩ rõ, lưng xanh lá cây có đốm trắng, mặt sườn nâu đen, công thức màng bơi 1I-1II-1III-2IV2-1V.
  • Phân bố theo sinh cảnh: Khu vực nghiên cứu được phân chia thành 4 dạng sinh cảnh: Rừng tự nhiên núi đá (SC1, ghi nhận 3 loài), Rừng tự nhiên núi đất (SC2, ghi nhận 9 loài), Làng bản và đồng ruộng (SC3, ghi nhận 5 loài), Ven khe suối (SC4, ghi nhận 10 loài - có độ đa dạng cao nhất).
  • Phân bố theo đai cao: Phân hóa theo 4 đai độ cao: Đai 300 - 500 m ghi nhận 9 loài; đai 500 - 700 m ghi nhận 9 loài; đai 700 - 900 m ghi nhận 7 loài; đai 900 - 1.100 m ghi nhận 4 loài. Số lượng loài giảm rõ rệt ở các đai cao trên 900 m do địa hình hiểm trở và thiếu thủy vực.
  • Tình trạng bảo tồn và mối đe dọa: Loài Ếch cây ki-o (Rhacophorus kio) thuộc cấp EN (Nguy cấp) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007). Hai mối đe dọa trực tiếp gồm: áp lực săn bắt phục vụ thực phẩm và dược liệu (diễn ra quanh năm hoặc tập trung từ tháng 3 đến tháng 11) và mất sinh cảnh do hoạt động phát đốt nương rẫy, chăn thả gia súc, khai thác củi gỗ.
  • Biện pháp quản lý đề xuất: Nhóm giải pháp bảo vệ sinh cảnh rừng tự nhiên; tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân tộc thiểu số kết hợp giao khoán bảo vệ rừng; xây dựng chương trình điều tra, giám sát khoa học định kỳ có sự tham gia của các trường đại học và viện nghiên cứu.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp danh lục đầy đủ gồm 13 loài ếch nhái được kiểm chứng qua các nguồn thu thập khác nhau tại khu vực nghiên cứu:

STT Tên phổ thông Tên khoa học Họ Nguồn ghi nhận
1 Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus Bufonidae QS, MV, TL
2 Ngóe Fejervarya limnocharis Dicroglossidae QS, MV, PV, TL
3 Ếch đồng Hoplobatrachus rugulosus Dicroglossidae TL
4 Ếch suối mengla Hylarana menglaensis Dicroglossidae QS, MV, TL
5 Cóc mày nhỏ Leptolalax pluvialis Megophryidae QS, MV, PV, TL
6 Nhái bầu heymon Microhyla heymonsi Microhylidae QS, MV, PV, TL
7 Nhái bầu hoa Microhyla ornata Microhylidae QS, MV, PV, TL
8 Chàng xanh Hylarana erythraea Ranidae QS, MV, TL
9 Chàng mẫu sơn Hylarana maosonensis Ranidae QS, MV
10 Ếch xanh Odorrana chloronota Ranidae QS, MV, TL
11 Ếch cây đầu to Polypedates megacephalus Rhacophoridae QS, MV, PV, TL
12 Ếch cây mutus Polypedates mutus Rhacophoridae QS, MV, TL
13 Ếch cây ki – o Rhacophorus kio Rhacophoridae QS, MV, TL

(Ghi chú nguồn dữ liệu: QS = Quan sát trực tiếp: 12 loài, chiếm 92,31%; MV = Thu giữ mẫu vật: 10 loài, chiếm 76,92%; PV = Điều tra phỏng vấn: 7 loài, chiếm 53,85%; TL = Kế thừa tài liệu: 11 loài).

Bảng tổng hợp phân bố theo sinh cảnh và đai cao của các loài thu mẫu và quan sát:

STT Tên loài SC1 (Núi đá) SC2 (Núi đất) SC3 (Ruộng, bản) SC4 (Khe suối) Đai 300-500m Đai 500-700m Đai 700-900m Đai 900-1100m
1 Cóc nhà - - + + + + + -
2 Nhái bầu hoa - + + + + + + +
3 Nhái bầu heymon - + + + + + + -
4 Ngóe - + + - + + + -
5 Ếch xanh - - - + + + - -
6 Chàng xanh - + + + + - - -
7 Cóc mày nhỏ + + - + + + + +
8 Ếch cây ki – o + - - + - + - -
9 Ếch cây mutus - + - - - + + -
10 Ếch cây đầu to + + - + + + + -
11 Chàng mẫu sơn - + - + + + - +

So sánh đa dạng phân loại học của khu vực nghiên cứu với các khu vực lân cận:

  • Huyện Mường Nhé (Điện Biên): 45 loài.
  • Khu vực nghiên cứu (Mường Phăng - Pa Thơm): 13 loài.
  • Đèo Pha Đin (địa phận Điện Biên): 12 loài.
  • Đèo Pha Đin (địa phận Sơn La): 12 loài.

Đóng góp khoa học và thực tiễn tự nêu của tác giả:

  • Bổ sung 02 loài ghi nhận mới cho khu rừng Mường Phăng – Pá Khoang và xã Pa Thơm: Chàng mẫu sơn (Hylarana maosonensis) và Ếch xanh (Odorrana chloronota).
  • Cung cấp dẫn liệu khoa học có tọa độ, hình thái và mô tả sinh cảnh cụ thể để khắc phục khoảng trống số liệu từ bản quy hoạch năm 2015 của địa phương.
  • Làm cơ sở thực tiễn cho Ban quản lý khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng – Pá Khoang phân định vùng ưu tiên bảo tồn (vùng ven suối và đai cao 300 - 700 m) và kiểm soát các tác động nhân sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Điều kiện thời tiết thực địa khô hạn và nhiệt độ thấp (tháng 3 là giai đoạn cuối mùa khô, chịu ảnh hưởng gió mùa Tây Nam khô hanh) làm giảm tần suất xuất hiện và hoạt động của các loài lưỡng cư.
  • Thời gian khảo sát ngoại nghiệp tương đối ngắn (2 đợt, tổng cộng 21 ngày).
  • Địa hình khu vực nghiên cứu phức tạp, núi đá dốc đứng và hiểm trở, gây khó khăn cho việc tiếp cận các thung lũng sâu và phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
  • Trang thiết bị và dụng cụ chuyên dụng phục vụ bắt mẫu, quan sát đêm còn thiếu thốn; nguồn lực và kinh nghiệm thực địa của tác giả còn hạn chế.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Bố trí các đợt điều tra bổ sung vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), là giai đoạn sinh sản và hoạt động mạnh nhất của lưỡng cư.
  • Mở rộng tuyến khảo sát vào các tiểu khu xa xôi, vùng lõi bảo tồn nghiêm ngặt chưa thể tiếp cận trong các đợt nghiên cứu trước.
  • Sử dụng mô gan đã lưu trữ trong cồn 95% để tiến hành phân tích sinh học phân tử (ADN), kiểm chứng sâu hơn về phân loại học di truyền đối với các quần thể lưỡng cư tại vùng lòng chảo Điện Biên.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị ứng dụng cho các đối tượng và mục đích sau:

  • Học tập và nghiên cứu: Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học và Động vật học tham khảo phương pháp thiết kế tuyến điều tra lưỡng cư kết hợp giữa quan sát ngày - đêm, kỹ thuật gây mê, định hình tiêu bản cồn và phương pháp đo hình thái chi tiết bằng thước kẹp điện tử.
  • Quản lý bảo tồn tại địa phương: Cung cấp cho Ban quản lý khu rừng Di tích lịch sử Mường Phăng – Pá Khoang và Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên danh lục phân loại học, bản đồ sinh cảnh nhạy cảm (SC4 - ven khe suối) và lịch trình mùa vụ săn bắt để bố trí lực lượng tuần tra, kiểm soát khai thác động vật hoang dã.
  • Nghiên cứu so sánh: Là nguồn dữ liệu cơ sở cho các công trình nghiên cứu so sánh về địa lý động vật học khu hệ Lưỡng cư vùng Tây Bắc với các khu bảo tồn lân cận như Mường Nhé, Sốp Cộp, Copia.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu loài ếch nhái và những loài nào là phát hiện mới cho khu vực nghiên cứu?
Khóa luận đã thống kê được 13 loài ếch nhái thuộc 1 bộ Không đuôi (Anura) và 6 họ. Trong đó, có 2 loài được ghi nhận mới cho khu vực nghiên cứu là Chàng mẫu sơn (Hylarana maosonensis) thuộc họ Ếch nhái (Ranidae) và Ếch xanh (Odorrana chloronota) thuộc họ Ếch nhái (Ranidae).

2. Loài ếch nhái nào ghi nhận tại khu vực có tên trong Sách Đỏ Việt Nam?
Nghiên cứu ghi nhận loài Ếch cây ki-o (Rhacophorus kio) thuộc họ Ếch cây (Rhacophoridae) được xếp ở cấp EN (Nguy cấp) theo Sách Đỏ Việt Nam (2007). Mẫu vật được thu tại Pa Thơm ở độ cao 602 m, trên cành cây cách mặt nước 1,5 - 2 m.

3. Sinh cảnh và đai cao nào có mức độ đa dạng loài ếch nhái cao nhất?
Sinh cảnh Ven khe suối (SC4) có độ đa dạng loài cao nhất với 10 loài ghi nhận trực tiếp do có độ ẩm cao, nguồn thức ăn phong phú và nhiều hang hốc trú ẩn. Về đai cao, khoảng độ cao từ 300 - 500 m và 500 - 700 m ghi nhận số loài cao nhất (9 loài mỗi đai), trong khi đai cao 900 - 1.100 m chỉ ghi nhận được 4 loài.

4. Quy trình xử lý và lưu trữ mẫu vật lưỡng cư được tác giả thực hiện như thế nào?
Mẫu vật sau khi thu bắt được gây mê bằng bông thấm etyl axetat trong 24 giờ. Mẫu mô gan phục vụ phân tích sinh học phân tử ADN được tách và bảo quản riêng trong cồn 95% (cách ly foóc-môn). Tiêu bản hình thái được định hình tư thế, phủ vải màn/giấy thấm ngâm trong cồn 80 - 90% từ 8 - 10 giờ để cố định, sau đó chuyển sang ngâm bảo quản dài hạn trong cồn 70% tại phòng tiêu bản Bộ môn Động vật rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp.

5. Hai mối đe dọa trực tiếp nhất đối với các loài ếch nhái tại khu vực nghiên cứu là gì?
Hai mối đe dọa chính gồm: (1) Hoạt động săn bắt của người dân bản địa và thợ săn bên ngoài dùng bẫy, súng, nỏ để phục vụ nhu cầu thực phẩm và dược liệu (diễn ra quanh năm với một số loài như Cóc nhà, Ngóe, Chàng mẫu sơn); (2) Tình trạng chặt phá rừng, phát đốt nương rẫy và chăn thả gia súc tự do làm suy thoái, phân mảnh sinh cảnh sống tự nhiên của ếch nhái.

Kết luận

Khóa luận đã xác định được danh lục 13 loài ếch nhái thuộc 6 họ của bộ Không đuôi tại Khu rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng – Pá Khoang và xã Pa Thơm, đồng thời bổ sung 2 ghi nhận phân loại học mới cho khu vực. Kết quả điều tra thực địa đã làm rõ sự phân bố tập trung của khu hệ lưỡng cư ở sinh cảnh ven khe suối và các đai độ cao dưới 700 m, đồng thời nhận diện áp lực săn bắt và mất sinh cảnh là những đe dọa chính. Công trình cung cấp hệ thống số liệu khoa học xác thực, phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định chính sách bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý tài nguyên rừng của địa phương.