MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được của một quốc gia. Nguồn lực này còn là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng.Đất đai gắn bó với con người chặt chẽ trong sản xuất và đời sống. Đây được xem là một trong những vấn đề của mọi thời đại, phản ánh những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội. Sau hơn 20 năm thực hiện giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, chủ trương này đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết được mối quan hệ lợi ích giữa người sản xuất nông nghiệp và Nhà nước, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống người nông dân.
Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý và sử dụng quỹ đất nông nghiệp nhất là đất nông nghiệp công ích còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Đất công ích là một trong những nội dung về quản lý, sử dụng đất đai trong hệ thống pháp luật đất đai Việt Nam. Đó là đất để xây dựng các công trình công cộng phục vụ cho lợi ích chung của mọi người trong xã hội. Đất công ích cũng là một vấn đề nằm trong số còn nhiều bất cập đó, là loại đất được hình thành, với sự tự chủ trong việc tự chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng đất công ích của chính quyền địa phương; tình hình lãng phí gia tăng, tình trạng để lại không đúng diện tích, quản lý, sử dụng không đúng thẩm quyền, không đúng mục đích,…diễn ra ngày càng nhiều, điều này đã ảnh hưởng nhiều đến chính sách đất đai và tình hình phát triển chung của cả nước.
Khi đi vào nghiên cứu vấn đề này, sẽ thấy rõ hơn nhưng ưu điểm, cũng như những thiếu sót trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai nói chung và đất công ích nói riêng. Quận Bắc Từ Liêm là một quận thuộc Hà Nội nằm dọc phía bờ nam của sông Hồng. Phía Đông giáp quận Tây Hồ, phía Đông Nam giáp quận Cầu Giấy, phía Tây giáp huyện Đan Phượng, Hoài Đức, phía Nam giáp quận Nam Từ Liêm, phía Bắc giáp sông Hồng.Quận được thành lập theo Nghị quyết số Luan van 2 132/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ, trên cơ sở tách 9 xã: Thượng Cát, Liên Mạc, Tây Tựu, Thụy Phương, Minh Khai, Phú Diễn, Đông Ngạc, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế thành 13 phường. Nhưng trong thực tế hiện nay việc quản lý, sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm còn nhiều bất cập như việc cho thuê sử dụng đất công ích chưa đúng đối tượng, thời gian thuê; cho mượn, chuyển nhượng trái phép; chuyển mục đích sử dụng đất, sử dụng không đúng mục đích được giao, để bị lấn bị chiếm, tranh chấp.
Vấn đề này cần được tháo gỡ trong thời gian tới nhằm nâng cao năng lực quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp công ích trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm. Xuất phát từ thực tế đó, việc thực hiện đề tài"Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp công ích trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm , thành phố Hà Nội" là cần thiết.Mục tiêu của đề tài - Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp công ích nhằm xác định những mặt tích cực, tiêu cực trong việc thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước đối với đất công ích trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm. - Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp công ích trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ý nghĩa của đề tài 3.
Ý nghĩa khoa học Làm rõ cơ sở khoa học về quản lý, sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp công ích nói riêng. Kết quả nghiên cứu của đề tài đưa ra cách nhìn nhận vấn đề với góc đa chiều từ chính sách quản lý, sử dụng của nhà nước, nhu cầu cũng như nguồn lợi của người dân đối với đất công ích; để từ đó có cách giải quyết hài hòa các lợi ích này. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu đề tài giúp địa phương nắm rõ được diện tích, quy mô, Luan van 3 thực trạng quản lý, sử dụng đất nông nghiệp công ích, qua đó có những giải pháp nâng cao năng lực quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp công ích tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. - Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho học viên cao học, sinh viên cũng như những nhà quản lý đất đai về việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp công ích nói riêng.
Luan van 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở khoa học 1.Khái niệm chung về đất đai 1.Khái niệm về đất đai Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thời gian. Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì nhiêu, màu mỡ. Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất.
Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biến đổi của đất do các hoạt động của con người. Về mặt đời sống - xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng. Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian [2]. Vấn đề quản lý đất đai Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ, liên quan đến việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc bán, cho thuê hoặc thu thuế) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng đất.
Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chi tiết về thửa đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lưu giữ, cập nhật và cung cấp những thông tin liên quan về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và các nguồn thông tin khác liên quan đến thị trường bất động sản. Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng đất công và đất tư bao gồm các hoạt động đo đạc, đăng Luan van 5 ký đất đai, định giá đất, giám sát và quản lý sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý. Nhà nước đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm Pháp Luật đất đai và pháp luật liên quan đến đất đai. Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước xác định một số nội dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; tập trung và phân cấp quản lý; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý các tổ chức địa chính; quản lý nguồn nhân lực; hợp tác quốc tế [4].
Vấn đề sử dụng đất đai Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng. Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “ những hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng”. Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước…), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ mùa vụ …) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng đất khác. Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế xã hội và các yếu tố kỹ thuật.
Vì vậy có thể khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất. Điều kiện tự nhiên: khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng… cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như: yếu tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng. Điều kiện kinh tế - xã hội: bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số, lao động, thông tin và các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc phòng, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao Luan van 6 thông, vận tải, sự phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Yếu tố không gian: đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do đất đai là sản phẩm tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người.
Đất đai hạn chế về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất không thể thay thế được khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội [5]. Quản lý nhà nước về đất đai 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan nhà nước về đất đai. Đó là các hoạt động trong việc nắm và quản lý tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân bổ đất đai vào các mục đích sử dụng đất theo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai.