MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xây dựng và phát triển KCN tập trung là xu hướng chung của các quốc gia định hướng đến năm 2020 là hình thành hệ thống các KCN chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia. Đồng thời hình thành các KCN có qui mô hợp lí để tạo điều kiện phát triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỉ trọng công nghiệp trong GDP thấp. Việc xây dựng và phát triển KCN tập trung đưa tỉ lệ đóng góp của các KCN vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp từ trên 24% hiện nay lên khoảng 39-40% năm 2014 và tới trên 60% vào giai đoạn tiếp theo.
Tăng tỉ lệ xuất khẩu hang công nghiệp của các khu công nghiệp từ 19,2% giá trị xuất khẩu toàn quốc lên khoảng 40% vào năm 2014 và cao hơn vào các giai đoạn tiếp theo. Song hành với sự phát triển công nghiệp và khu công nghiệp, vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường và cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng gia tăng. Cho đến nay, mặc dù Chính phủ đã có nhiều nỗ lực khắc phục các tác động tiêu cực đến môi trường do hoạt động sản xuất gây ra, nhưng cũng phải nhìn nhận một thực tế rằng chúng ta đang xử lý các triệu chứng môi trường (nước thải, khí thải, chất thải rắn, khí thải…) thay vì giải quyết các “căn bệnh môi trường”- nguyên nhân làm phát sinh chất thải. Thêm vào đó, các khu công nghiệp hiện nay vẫn là những hệ thống mở.
Trong đó, nguyên liệu được khai thác từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho hoạt động sản xuất và sau đó được trả lại môi trường dưới dạng chất thải. Đó là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trường tự nhiên theo đà phát triển công nghiệp. Theo các nhà sinh thái công nghiệp, có thể khắc phục điều này bằng cách phát triển khu công nghiệp theo mô hình hệ thống kín, tương tự như hệ sinh thái tự nhiên. Trong đó, chất thải từ một khâu này của hệ thống sẽ là “chất dinh dưỡng” của một khâu khác.
Đây là sự cộng sinh công nghiệp hay Sinh viên: Vũ Thị Hồng Nhung – MT1501 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG nói cách khác khu công nghiệp sinh thái được xem là giải pháp hứa hẹn cho sự phát triển công nghiệp bền vững của đất nước trong tương lai. Thành phố cảng Hải Phòng – thành phố công nghiệp nằm trong vùng tam giác kinh tế động lực của miền Bắc. Theo chủ trương và định hướng của Đảng và Nhà nước trong công cuộc CNH - HĐH đất nước mở của và hội nhập. Hải Phòng là một trong các thành phố sớm phát triển các KCN nhất của cả nước.
Sự ra đời và phát triển của các KCN Hải Phòng gắn liền với sự ra đời của các KCN đầu tiên ở Việt Nam, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Đóng góp vào sự phát triển của các KCN Hải Phòng, trên địa bàn Thành phố Hải Phòng có 16 KCN, 39 cụm công nghiệp đã được quy hoạch và đi vào hoạt động, 1 khu kinh tế. Trong đó có 5 KCN lớn là: KCN Nomura - Hải Phòng, Đồ Sơn, Đình Vũ, Tràng Duệ và KCN Nam Cầu Kiền. KCN Nomura - Hải Phòng là KCN nằm trong hệ thống các KCN Việt Nam, là liên doanh giữa Thành phố Hải Phòng và Tập đoàn Nomura (Nhật Bản).
Được thành lập từ năm 1994, những năm qua KCN Nomura - Hải Phòng đã trải qua rất nhiều khó khăn trên con đường xây dựng và phát triển. Đặc biệt là thời kỳ khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997 gây suy thoái kinh tế nặng nề cho việc đầu tư ra nước ngoài, dẫn đến công việc kinh doanh của KCN gặp rất nhiều khó khăn, mặc dù Công ty phát triển KCN Nomura - Hải Phòng đã tích cực điều chỉnh đồng bộ các hoạt động cho phù hợp với tình hình mới. Đến nay, KCN Nomura - Hải Phòng đã thu hút được 54 nhà đầu tư vào KCN và 07 nhà kinh doanh dịch vụ, nâng tổng số kim nghạch đầu tư vượt 1 tỷ USD với tỷ lệ thực hiện cao; tạo việc làm cho hơn 20 nghìn người lao động Việt Nam; giá trị sản xuất của các công ty, xí nghiệp trong KCN đã lên tới 500 triệu USD trong năm, đạt 10% GDP, 30% kim ngạch mậu dịch của Thành phố Hải Phòng. Bên cạnh những thành quả đem lại, do tính đa ngành, đa lĩnh vực trong KCN Nomura - Hải Phòng có tính phức tạp về môi trường cao như: Nước thải có thành phần đa dạng; ô nhiễm khí thải mang tính cục bộ, một số doanh nghiệp chưa đầu tư hệ thống xử lí khí thải, ô nhiễm không khí chủ yếu là ô nhiễm bụi, khí CO, CO 2, Sinh viên: Vũ Thị Hồng Nhung – MT1501 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG SO2, NO2, chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại phát sinh tại các doanh nghiệp thứ cấp do các doanh nghiệp thứ cấp tự hợp đồng với các đơn vị có chức năng thu gom và xử lý, diện tích cây xanh cũng đã được trồng nhưng chưa đủ diện tích theo qui định.
Từ khi thành lập đến nay, KCN Nomura - Hải Phòng chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ và khoa học về hiện trạng môi trường để từ đó để xuất những biện pháp, giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm, giảm thiểu sự phát thải của KCN và phát triển KCN theo hướng thân thiện môi trường. Xuất phát từ những lý do trên, tôi nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường KCN Nomura - Hải Phòng”. Nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường KCN một cách có hệ thống, khoa học và đầy đủ từ đó đề xuất một số biện pháp, giải pháp bảo vệ môi trường cho KCN Nomura - Hải Phòng.1: Khu công nghiệp Nomura – Hải Phòng 1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu chung Nghiên cứu hiện trạng môi trường nhằm đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường cho KCN Nomura - Hải Phòng là tìm kiếm các giải pháp công nghệ tiên tiến trong sản xuất kinh doanh và quản lý tiết kiệm nguyên vật liệu và giảm Sinh viên: Vũ Thị Hồng Nhung – MT1501 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG thiểu chất thải, tái sinh, tái chế chất thải hướng đến nền sinh thái công nghiệp bền vững.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá hiện trạng môi trường của KCN Nomura - Hải Phòng. - Đánh giá một số tác động cuả KCN Nomura - Hải Phòng đến kinh tế xã hội, tài nguyên và môi trường của khu vực. - Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường cho KCN Nomura - Hải Phòng theo hướng thân thiện môi trường. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đề tài “Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường KCN Nomura - Hải Phòng” mang ý nghĩa lớn trong việc đánh giá được hiện trạng môi trường và các ảnh hưởng của KCN Nomura - Hải Phòng đến kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường của khu vực.
Đây là căn cứ để có những biện pháp, giải pháp bảo vệ môi trường cho KCN Nomura - Hải Phòng nói riêng và các KCN trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói chung.1 Ý nghĩa khoa học Đề tài làm sáng tỏ một số cơ sở lý luận về KCN tạo điều kiện cho việc quy hoạch, xây dựng và phát triển hợp lý các KCN nhằm góp phần bảo vệ môi trường tại các KCN nói riêng và toàn thành phố Hải Phòng nói chung, hướng tới một nền công nghiệp thân thiện môi trường.2 Ý nghĩa thực tiễn Đề tài được thực hiện thành công tại KCN Nomura - Hải Phòng sẽ giúp các nhà quản lý, nhà hoạch định chiến lược môi trường, các nhà quy hoạch môi trường của thành phố Hải Phòng có những kinh nghiệm thực tiễn quý báu trong công tác quản lý quy hoạch, xây dựng và phát triển các KCN trong tương lai và vận hành các KCN đang hoạt động theo hướng thân thiện môi trường và công nghiệp sinh thái bền vững, góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Sinh viên: Vũ Thị Hồng Nhung – MT1501 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG 1. Cơ sở khoa học của đề tàì 1. Cơ sở khoa học Việc áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường tại các KCN gắn liền với nhu cầu hoàn thiện hệ thống quản lý môi trường theo yêu cầu của phát triển bền vững.
Trong xu hướng này, cần thiết phải có cơ sở pháp lý bao gồm pháp luật, cơ chế chính sách, chiến lược, kế hoạch hành động, giải pháp, biện pháp. Các mô hình quản lý môi trường tiên tiến, linh hoạt và mềm dẻo, nhưng khi áp dụng thì sự tiếp cận theo hướng trở lại sẽ đòi hỏi các KCN tập trung phải thực hiện các chương trình hoàn thiện hệ thống quản lý môi trường ngày càng cao hơn. Các KCN này tất yếu sẽ phải tổ chức thực hiện chương trình phát triển khoa học - công nghệ cần thiết tại KCN như việc hoàn thành các giải pháp công nghệ, kiểm soát và xử lý ô nhiễm, áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn, các giải pháp sinh thái môi trường và sinh thái công nghệp nhằm đảm bảo tiêu chuẩn môi trường nhà nước và hướng tới mục tiêu thân thiện môi trường. Các KCN tập trung được hình thành, xây dựng và phát triển lâu dài trong điều kiện cụ thể của quá trình CNH-HĐH ở nước ta, sẽ cần phải áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường và tiến đến mô hình KCN xanh-sạch-đẹp và KCN sinh thái trong tương lai.
Cơ sở pháp lý Luật bảo vệ môi trường đã quy định rất chặt chẽ về nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với môi trường, nhiệm vụ phòng ngừa, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường, khắc phục, cải tạo suy thoái và sự cố môi trường. Đồng thời khuyến khích việc ứng dụng công nghệ sạch và tiên tiến trong sản xuất, tiêu dùng và công tác BVMT nhằm đảm bảo phát triển bền vững kinh tế-xã hội. Trong thời gian này, các văn bản pháp quy của nhà nước, các quy chuẩn, tiêu chuẩn của nhà nước và các tài liệu khoa học còn sử dụng khái niệm cụ thể cho các lĩnh vực công nghệ, nguyên liệu, sản phẩm, văn hóa và nếp sống xã hội. Dưới đây là một số văn bản quy định trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Việt Nam.