MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết của luận văn. Thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang nằm giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ, cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Tây Nam, nằm trọn vẹn trên ngã ba sông Tiền và thừa hưởng tác động trực tiếp của tuyến Quốc lộ 1A là hệ thống giao thông đường bộ lớn nhất cả nước. Tp Mỹ tho với dân số 251 071 người (2005-2007 nguồn số liệu phát triển kinh tế xã hội của Tp Mỹ Tho năm 2001- 2005) gồm 11 phường và 4 xã, có diện tích là 49. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1%/năm.
Trên địa bàn Tp có 7 BV. Với gần 1000 giường bệnh đang đổ ra mỗi ngày hàng ngàn kg chất thải rắn các loại trong đó lượng chất thải nguy hại chiếm khối lượng tương đối cao. Để quản lý khối lượng chất thải như vậy, Tp đã sử dụng phương pháp đốt và được đặt ở bệnh viên Lao & bệnh Phổi. Lò đốt ở đây hàng ngày phải làm việc hết công suất để có thể tiêu hủy số lượng chất thải như vậy.
Tuy nhiên, cho đến nay mặc dù đã hình thành và hoạt động được vài năm và tốn vài tỷ đồng cho việc đầu tư trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng song công tác quản lý chất thải y tế ở TP Mỹ Tho đang còn phải đối mặt với nhiều vấn đề chưa được giải quyết một cách triệt để. Một số khó khăn : Khó khăn trong việc quản lý hệ thống thu gom Hệ thống quản lý của các cơ quan nhà nước còn yếu về nhân lực và trang thiết bị. Thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý giỏi và công nhân lành nghề Chưa thực hiện được việc thu phí một cách chặt chẽ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác quản lý chất thải Y tế chưa được quy hoạch dài hạn với các vấn đề: Quy họach tổng thể hệ thống quản lý chất thải Y tế.
Xây dựng chương trình xã hội hóa toàn hệ thống quản lý chất thải bao gồm chương trình thu phí quản lý chất thải rắn Y tế (thu gom, vận chuyển,xử lý) đến phường xã. Xây dựng chương trình phân loại tại nguồn. Xây dựng hệ thống quản lý mạnh kết hợp với chương trình đào tạo và huấn luyện chuyên môn của cán bộ và công nhân. Hoàn thiện các văn bản pháp luật phục vụ cho công tác quản lý và vận hành hệ thống.
Những bất cập trên là khó tránh khỏi trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội nhưng cũng là vấn đề cần các nhà lãnh đạo phải giải quyết trong thời gian tới. 6 Do vậy, để giải quyết những bất cập trên cần phải đi sâu vào phân tích hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế của Tp Mỹ Tho. Tuy có một số đề tài đã nghiên cứu và nêu ra một số biện pháp khắc phục nhưng vẫn còn một số khó khăn. Cho nên, với đề tài này nhằm củng cố một số ý kiến về giải quyết các hiện trạng quản lý chất thải Y tế trên địa bàn Tp Mỹ Tho.2 Mục tiêu của đề tài.
Đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường tại các bệnh viện và trung tâm y tế trên địa bàn thành phố Mỹ Tho. Đề xuất các biện pháp thích hợp trong điều kiện thích hợp của thành phố 1.3 Nội dung thực hiện. - Giới thiệu tổng quan về chất thải y tế (chất thải rắn, nước thải) - Nêu lên hiện trạng về công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện và trung tâm y tế của thành phố Mỹ Tho - Dự báo diễn biến về tải lượng chất thải y tế của thành phố. - Đề xuất các giải pháp với điều kiện thành phố.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu - Về địa lý : Tp Mỹ Tho- Tiền Giang - Về đối tượng: Chất thải y tế (nước thải và chất thải rắn) 1.5 Phương pháp thực hiện.
-Phương pháp thống kê - Phương pháp tìm hiểu các tài liệu có lien quan đến đề tài - Phương pháp khảo sát tình hình thực tế 7 Chöông 2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ.1 Giới thiệu vế chất thải y tế.1 Khái niệm chất thải y tế: Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học.2 Tính chất của chất thải y tế. Chất thải y tế có ở dạng rắn lỏng và khí. Chất thải y tế thường bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động tới môi trường sức khỏe giống như các chất thải thông thường khác. Tuy nhiên, một phần trong chất thải y tế là các loại hình chất thải có các đặc tính riêng biệt và có nguy cơ cao gây rủi ro về môi trường và sức khỏe cộng đồng và thường được gọi là chất thải nguy hại.
Do có các đặc tính và tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khỏe mà các loại chất thải y tế nguy hại đòi hỏi phải được thu gom, phân lập và tiêu hủy trình đặc biệt và đảm bảo an toàn có áp dụng các công nghệ phức tạp và thường là tốn kém để tránh thoát thải ra môi trường nên ngoài. Thông thường, chất thải y tế nguy hại có một trong các thành phần như : máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan tổ chức của cơ thể người được cắt bỏ trong điều trị, động vật đã sử dụng cho thí nghiệm nghiên cứu, bơm kiêm tiêm, các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất, các đồng vị phóng xạ dùng trong y tế… 2.3 Phân loại chất thải y tế. Việc phân loại và xác định chất thải y tế của đa số các nước trên thế giới, kể cả các nước trong khu vực cũng như hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO) khá nhất quán và nhìn chung đề bao gồm các loại chính như sau: Nhóm chất thải lâm sàng : bao gồm 5 phân nhóm khác nhau là: Nhóm A : Chất thải nhiễm khuẩn (infectious waste) :vật liệu thấm máu, dịch, băng gạc, bông băng, túi đựng dịch, dẫn lưu… Nhóm B : Các vật sắc nhọn (sharps):các loại kim tiêm, lưỡi dao mổ, dao lam dùng trong y tế, ống thuốc tiêm vỡ… Nhóm C: Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm như găng tay, lam kính, bệnh phẩm… Nhóm D : Chất thải dược phẩm bao gồm dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, thuốc gây độc tế bào kể cả các lọ thuốc đã được sử dụng nhưng còn tồn lưu dư lượng, và hóa chất có tính gây độc đối với tế bào. Nhóm E: Bệnh phẩm (pathological waste).
Nhóm này bao gồm các mô và cơ quan người, động vật, một phần chi thể bị cắt bỏ do các can thiệp phẫu 8 thuật (cần lưu ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi chúng không chứa nguồn lây nhiễm nhưng cũng vẫn có khả năng gây tác động tâm lý rất mạnh). Nhóm chất thải phóng xạ : Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ. Nhóm chất thải hóa học: Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axít béo, axit amin, một số loại muối…và hoá chất nguy hại như phooc man dehit, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong khử trùng tẩy uế, thanh trùng… Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất : Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy,CO2, bình gas, các bình chứa khí một lần… Đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng quy cách. Nhóm chất thải sinh hoạt: Nhóm này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường từ hộ gia đình gồm giấy loại, vải loại,vật liệu đóng bao, đóng gói, thức ăn còn thừa, thực phẩm thải bỏ và các chất thải ngoại cảnh như các loại lá, hoa quả rụng… Bảng 2.1 trình bày kết quả phân loại chất thải rắn tại 2 bệnh viện đã có đốt rác y tế và chưa có hệ thống xử lý nước: Bảng 2.1-Kết quả phân loại chất thải rắn tại 2 bệnh viện đã có lò đốt rác và chưa có hệ thống xử lý nước: STT Thành Phần Khối lượng Phần (kg) Trăm(%) 1 1-Bệnh viện tỉnh Quảng Nam 1.1 Phân loại lần 1 (a) chất thải Giấy, bao bì 1,48 14,8 Thực phẩm 0,715 7,15 (b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông băng, 2,512 25,12 vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết, bột y tế.
9 (c) Plastic, cao su, găng tay, dây truyền, dịch 2,624 26,24 (d) Nhóm B - Các vật sắc nhọn : kim tiêm, ống 1,92 19,2 tiêm, chai lọ, ống tiêm thủy tinh, dao mổ… (e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm cao từ phòng xét nghiệm : lam kính, ống nghiệm (f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi (g) Nh óm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai, bào 0,749 7,49 thai… (h) Chất phóng xạ (i) Các thành phần khác Tổng 10 100 2.2 Phân loại lần 2 (a) chất thải Giấy, bao bì 1,378 13,78 Thực phẩm 0,826 8,26 (b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông băng, 2,722 27,22 vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết, bột y tế. (c) Plastic, cao su, găng tay, dây truyền, dịch 2,514 25,14 (d) Nhóm B - Các vật sắc nhọn : kim tiêm, ống 1,84 18,4 tiêm, chai lọ, ống tiêm thủy tinh, dao mổ… (e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm 0,058 0,58 cao từ phòng xét nghiệm : lam kính, ống nghi ệm (f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi (g) Nhóm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai, bào 0,662 6,62 thai… (h) chất phóng xạ (i) Các thành phần khác Tổng 10 100 10 2 Bệnh viện đa khoa Hải Dương 2.1 phân loại lần 1 (a) chất thải Giấy, bao bì 1,636 16,36 Thực phẩm 0,734 7,34 (b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông băng, 2,914 29,14 vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết, bột y tế.