Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Bối cảnh và vấn đề chính sách công Thực hiện Nghị quyết 66/2008/NQ-HĐND ngày 03/7/2008 của Hội đồng nhân dân (HĐND) Thành phố Đà Nẵng khóa VII, nhiệm kỳ 2004-2009 về việc Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, UBND Thành phố Đà Nẵng đã ban hành Quyết định số 6211/QĐ-UBND ngày 18/8/2010 về việc “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành KH&CN Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020”. Quy hoạch này có nội dung chủ yếu là định hướng, mục tiêu phát triển KH&CN thể hiện vai trò trên tất cả các lĩnh vực KT-XH, cung cấp cơ sở khoa học để phục vụ quản lý đô thị, xây dựng cơ chế chính sách, đề xuất giải pháp phát triển KT-XH, giải pháp đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường tiềm lực KH&CN, đổi mới công nghệ, …Trên cơ sở chính sách của trung ương, UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 30/2005/QĐ-UB ngày 18/3/2005 “Quy định về cơ chế quản lý các nhiệm vụ KH&CN thành phố Đà Nẵng” (QĐ30). Quyết định này tạo được cơ chế quản lý và phương thức chi tài chính các nhiệm vụ KH&CN rõ ràng, phù hợp hơn. QĐ30 cũng quy định trách nhiệm cơ quan quản lý, cơ quan/cá nhân chủ trì nghiên cứu và các bước của quy trình quản lý được thực hiện đảm bảo theo quy định nhà nước.
Đồng thời QĐ30 cũng phù hợp với thực tế hoạt động nghiên cứu, tạo thuận lợi cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D) trên địa bàn thành phố tại thời điểm ban hành. Tuy nhiên, trải qua 6 năm thực thiện từ 2006 đến nay, trong quá trình áp dụng cơ chế quản lý nhiệm vụ KH&CN theo QĐ30 tại Đà Nẵng đã bộc lộ một số điểm bất cập, nhiều nội dung không còn phù hợp với những quy định mới được ban hành của trung ương và địa phương. Chính quyền địa phương ngày càng được phân quyền để đưa ra các chính sách tốt nhằm điều hành quản lý nhà nước tại địa phương. Để có những chính sách phù hợp, việc nghiên cứu khoa học ở Đà Nẵng là rất cần thiết.
Từ thực tế Đà Nẵng cho thấy việc quản lý các đề tài KH&CN còn nhiều thủ tục bất hợp lý và chưa giao quyền chủ động cho Sở KH&CN. Thủ tục thanh quyết toán tài chính còn rườm rà. Chưa có chính sách huy động các nguồn tài chính để đầu tư cho KH&CN. Chưa khuyến khích được các nhà khoa học trong và ngoài thành phố tham gia nghiên cứu 2 (nhằm đa dạng nguồn cung đề tài).
Đồng thời, từ thực tế cũng cho thấy, môi trường pháp lý thuận lợi là chưa đủ, để thúc đẩy hoạt động R&D, cần nhận thức và có biện pháp tổ chức thực hiện đúng. Do đó, để thúc đẩy KH&CN thành phố phát triển cần nghiên cứu và cải thiện quản lý các đề tài nghiên cứu cấp thành phố nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng quản lý nhằm đề xuất những chính sách đổi mới quản lý các đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố tại Đà Nẵng là việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Hơn nữa, khi UBND thành phố đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KH&CN thành phố đến năm 2020, thì đổi mới cơ chế quản lý đề tài là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện thành công Quy hoạch này.
Qua nhiều năm công tác thực tế, ý thức được tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về KH&CN trong việc tạo ra những đề tài nghiên cứu có chất lượng, tôi mong muốn đóng góp hiểu biết và kinh nghiệm của mình để hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quản lý nhà nước đối với đề tài KH&CN cấp thành phố tại Đà Nẵng. Đề tài “Đánh giá thực trạng quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp thành phố giai đoạn 2006-2010 tại Thành phố Đà Nẵng” được thực hiện nhằm lý giải những vấn đề từ thực tế và kiến nghị chính sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về KH&CN tại Thành phố Đà Nẵng.2 Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất chính sách hoàn thiện quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố của Thành phố Đà Nẵng.3 Câu hỏi nghiên cứu Luận văn này có câu hỏi nghiên cứu là: - Thực trạng quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố giai đoạn 2006-2010 tại Thành phố Đà Nẵng? - Đề xuất chính sách đối với việc quản lý các đề tài nghiên cứu cấp thành phố.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tượng khảo sát: Chính sách về KH&CN trung ương và Thành phố Đà Nẵng hiện hành. Tham khảo so sánh thêm kinh nghiệm trong lĩnh vực này của một số địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh Quảng Nam, Tỉnh Bình Định, Tỉnh Quãng Ngãi. - Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu quy trình quản lý các đề tài cấp thành phố theo QĐ30.
3 - Phạm vi nghiên cứu: Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố giai đoạn 2006-2010 tại Thành phố Đà Nẵng. Luận văn nghiên cứu quy trình quản lý các đề tài cấp thành phố có sử dụng ngân sách nhà nước của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Đà Nẵng.5 Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu kết hợp phương pháp phỏng vấn chuyên gia nhằm thực hiện mục tiêu và trả lời câu hỏi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Khảo sát, thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến câu hỏi nghiên cứu. - Nghiên cứu, phân tích tài liệu thu thập được.
Phương pháp chuyên gia - Tham khảo ý kiến chuyên gia làm công tác quản lý nhà nước, chuyên gia thực hiện đề tài nghiên cứu. - Tác giả tham gia các hội thảo, hội nghị về công tác nghiên cứu KH&CN để thu thập thông tin. Nguồn thông tin: Đề tài khai thác nguồn thông tin và tham khảo cơ chế quản lý nhiệm vụ KH&CN tại Website của Bộ KH&CN, Sở KH&CN Đà Nẵng và một số Sở KH&CN của TP.Hồ Chí Minh, Quảng Nam, Bình Định. Đề tài sử dụng dữ liệu về số lượng đề tài, kinh phí phê duyệt thực hiện các đề tài, chi ngân sách cho KH&CN của Thành phố Đà Nẵng được khai thác tại cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Sở KH&CN Đà Nẵng, các Website của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.6 Chức năng và nhiệm vụ của Sở KH&CN Đà Nẵng Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở KH&CN Đà Nẵng tuân theo Thông tư số 05/2008/TTLT-BKHCN-BNV ngày 18/6/2008 giữa Bộ KH&CN và Bộ Nội vụ và được quy định tại Quyết định số 8144/QĐ-UBND ngày 03/10/2008 của UBND Thành phố Đà Nẵng.
Theo Điểm 6, Phần I của Thông tư 05, Sở KH&CN có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn “Tổ chức tuyển chọn, xét chọn, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ KH&CN; đẩy mạnh hoạt động ứng dụng, công bố, tuyên truyền kết quả nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và các hoạt động khác; quản lý các nhiệm vụ KH&CN trọng điểm của tỉnh; phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước tại địa phương”. Sở KH&CN là cơ quan chuyên môn, giúp việc thuộc UBND thành phố có chức 4 năng tham mưu, quản lý nhà nước về nghiên cứu KH&CN tại địa phương, trong đó có chức năng sử dụng, phân bổ tiền ngân sách cấp cho việc nghiên cứu các đề tài thuộc danh mục UBND thành phố phê duyệt (Đề tài nghiên cứu cấp thành phố).1: Sơ đồ chức năng, nhiệm vụ của Sở KH&CN UBND thành phố Sở KH&CN (Chức năng, nhiệm vụ) Sở hữu Tiêu chuẩn, Hoạt động An toàn bức Ứng dụng Dịch vụ trí tuệ đo lường, KH&CN, phát xạ hạt nhân bức xạ và công về chất lượng triển tiềm lực đồng vị bức KH&CN KH&CN xạ Thực hiện nhiệm vụ KH&CN (Tổ chức thực hiện, quản lý các đề tài nghiên cứu) … (Nguồn: Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT-BKHCN-BNV, 2008) 1.7 Một số khái niệm liên quan đến quản lý đề tài nghiên cứu KH&CN a) Khái niệm đề tài nghiên cứu KH&CN Theo Điều 2 QĐ30, “Đề tài nghiên cứu KH&CN là đề tài nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, điều tra cơ bản và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, cần được nghiên cứu để nắm được bản chất, nguyên lý, tìm ra giải pháp, tạo ra công nghệ nhằm phục vụ cho mục tiêu cụ thể của kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng (sau đây gọi tắt là Đề tài KH&CN)”. Theo Điều 14 Nghị định số 81/2002/NĐ-CP, “Đề tài KH&CN có nội dung chủ yếu nghiên cứu về một chủ đề KH&CN. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình KH&CN”.
b) Khái niệm đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố Đề tài nghiên cứu KH&CN cấp thành phố là đề tài thuộc danh mục được UBND thành phố phê duyệt và được cấp kinh phí từ nguồn ngân sách của thành phố để thực hiện. c) Khái niệm quản lý các đề tài nghiên cứu KH&CN Quản lý các đề tài là việc cơ quan thẩm quyền tổ chức và triển khai thực hiện hoạt động nghiên cứu KH&CN bao gồm: xây dựng danh mục, thực hiện, kiểm tra, đánh giá 5 nghiệm thu, triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu, khen thưởng và xử lý vi phạm, quản lý tài chính đối với đề tài KH&CN. d) Khái niệm xây dựng nhiệm vụ đề tài Xây dựng nhiệm vụ đề tài là việc cơ quan thẩm quyền tổ chức xây dựng Danh mục đề tài hàng năm trình cơ quan cấp trên phê duyệt thực hiện. đ) Ban chủ nhiệm các Chương trình KH&CN thành phố Ban chủ nhiệm các Chương trình KH&CN thành phố do UBND thành phố thành lập theo nhiệm kỳ 5 năm.
Trong nhiệm kỳ 2006-2010 có tám Ban chủ nhiệm các Chương trình KH&CN thành phố gồm 52 thành viên, có nhiệm vụ nghiên cứu các giải pháp và xây dựng các luận cứ khoa học, đề xuất chính sách đối với các Chương trình KH&CN của thành phố. e) Hội đồng KH&CN thành phố Hội đồng KH&CN thành phố là tổ chức tư vấn cho UBND thành phố về công tác KH&CN của địa phương, do UBND thành phố thành lập theo nhiệm kỳ 5 năm. Hội đồng KH&CN làm việc theo quy chế tổ chức và hoạt động do Chủ tịch Hội đồng ban hành.